Bài viết

một phần của ký ức

Thời hoa lửa là những năm tháng rực lửa chiến tranh nhưng cũng chan chứa tình yêu nước, hy sinh cao cả, nơi tuổi trẻ dũng cảm cầm súng, gánh vác vận mệnh đất nước qua bom đạn, mưa rơi trên những dòng sông máu, những bến phà lịch sử, để lại bản hùng ca bất tử về lòng yêu nước, ý chí quật cường, và khát vọng hòa bình, để lại những câu chuyện đau thương, cảm động về sự chia ly, mất mát nhưng cũng ngời sáng tinh thần lạc quan, nhân hậu, và tình đồng đội keo sơn. Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đấ

Quảng Trị01/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời hoa lửa là những năm tháng rực lửa chiến tranh nhưng cũng chan chứa tình yêu nước, hy sinh cao cả, nơi tuổi trẻ dũng cảm cầm súng, gánh vác vận mệnh đất nước qua bom đạn, mưa rơi trên những dòng sông máu, những bến phà lịch sử, để lại bản hùng ca bất tử về lòng yêu nước, ý chí quật cường, và khát vọng hòa bình, để lại những câu chuyện đau thương, cảm động về sự chia ly, mất mát nhưng cũng ngời sáng tinh thần lạc quan, nhân hậu, và tình đồng đội keo sơn.

Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Trị yêu thương, nơi có truyền thống yêu nước, giữ nước lâu đời Ông Kiểm đã rất xúc động và kể lại cho em nghe câu chuyện về bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thu.

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.

"Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ", bà Thu nhớ lại.

Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.

"Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại", bà Thu nghẹn ngào.Thời hoa lửa là những năm tháng rực lửa chiến tranh nhưng cũng chan chứa tình yêu nước, hy sinh cao cả, nơi tuổi trẻ dũng cảm cầm súng, gánh vác vận mệnh đất nước qua bom đạn, mưa rơi trên những dòng sông máu, những bến phà lịch sử, để lại bản hùng ca bất tử về lòng yêu nước, ý chí quật cường, và khát vọng hòa bình, để lại những câu chuyện đau thương, cảm động về sự chia ly, mất mát nhưng cũng ngời sáng tinh thần lạc quan, nhân hậu, và tình đồng đội keo sơn.

Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Trị yêu thương, nơi có truyền thống yêu nước, giữ nước lâu đời Ông Kiểm đã rất xúc động và kể lại cho em nghe câu chuyện về bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thu.

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Những ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.

"Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ", bà Thu nhớ lại.

Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.

"Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại", bà Thu nghẹn ngào.

Để bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, hàng vạn sinh viên đã đặt bút xuống, khoác lên mình màu áo lính rồi tham gia huấn luyện chỉ trong vài tháng đã lập tức lên đường vào miền Nam. Đến Quảng Trị, họ được chia ra nhiều mũi, nhiều cánh quân để vượt sông Thạch Hãn, tiếp cận thành cổ và chiếc đò của bố con bà Thu chính là phương tiện sống còn.

"Ban ngày địch đánh ác liệt, máy bay quần thảo thả bom, bắn phá. Hầu hết những chuyến đò của tôi đều phải chèo vào ban đêm. Đêm tối như mực, chỉ khi có ánh lửa từ bom đạn lóe lên mới nhìn được mặt nhau một thoáng", bà Thu kể.

Thời điểm đó, ở khu vực gần Thành cổ Quảng Trị chỉ có duy nhất bà Thu cùng ông Con là người đưa bộ đội vượt sông. Ngoài chèo đò, cả hai còn làm người dẫn đường cho các chiến sĩ tiếp cận thành cổ. Bà kể chiếc đò chỉ có 1, mỗi ngày đưa được 10 chuyến, mỗi chuyến chở không quá 10 chiến sĩ, số còn lại bơi vượt sông.

"Có chiến sĩ bị thương nặng lắm, được tôi đưa về vừa đến bờ, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh. Trước khi hy sinh, họ đau đớn gào thét gọi mẹ ơi, tôi xót xa vô cùng. Tuổi này, do di chứng bom đạn, tôi không nhớ rõ nhiều nhưng nhớ là trong hàng vạn chiến sĩ được tôi chở qua sông, sau này chỉ có 2 người còn sống được tôi chở về", bà Thu nói.

Chiến tranh khốc liệt chẳng để bà kịp nhớ mặt, nhớ tên hai chiến sĩ ấy. Thế rồi mãi 46 năm sau, có một cụ ông tóc bạc phơ vượt hàng trăm cây số từ miền Bắc vào Quảng Trị, tìm gặp lại nữ du kích đưa đò năm xưa.

"Đó là ông Phạm Hùng, cựu chiến sĩ thành cổ hiện đang sống tại Thái Nguyên. Gặp lại người chiến sĩ trẻ năm nào giờ tóc đã bạc phơ, tôi vui lắm nhưng cũng nghẹn ngào… bởi số được như ông Hùng ít quá", bà Thu kể.

Thế hệ trẻ chúng cháu hôm nay bày tỏ sự xúc động mạnh mẽ, rơi nước mắt trước sự hy sinh cao cả của thế hệ cha anh, cảm nhận sâu sắc giá trị của hòa bình và thấy được trách nhiệm phải sống ý nghĩa, học tập, rèn luyện để xứng đáng với sự đánh đổi bằng máu xương, tuổi trẻ và ước mơ của những người lính. Họ nhận ra sự bình yên hiện tại không tự nhiên mà có, từ đó trân trọng hơn cuộc sống, thêm lòng tự hào dân tộc và ý thức cống hiến xây dựng đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn