Bài viết

Một số hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cao Bằng sau khi về nước (01/1941 – 8/1942)

Một số hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cao Bằng sau khi về nước (01/1941 – 8/1942)

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Một số hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Cao Bằng sau khi về nước (01/1941 – 8/1942)

Đầu tháng 01 – 1941, tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp học và trực tiếp huấn luyện chính trị cho 43 cán bộ cách mạng Việt Nam. Cộng sự của Người có Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Chương trình huấn luyện gồm ba phần chính, nhằm chuẩn bị thành lập mặt trận dân tộc rộng rãi ở nước ta: Tình hình thế giới và trong nước; Tổ chức đoàn thể quần chúng; Cách điều tra, tuyên truyền, tổ chức, huấn luyện và đấu tranh cách mạng (các tài liệu huấn luyện do Người tổ chức biên soạn, sau in litô thành sách nhan đề Con đường giải phóng). Sau hôm khai giảng lớp chính trị, Nguyễn Ái Quốc cùng tất cả các học viên đi lấy củi giúp dân. Ngay từ những ngày đầu của lớp học, Người căn dặn học viên kỹ lưỡng về năm điều nên làm và năm điều nên tránh đối với dân: Năm điều nên làm là: 1. Giúp dân những công việc thiết thực hàng ngày. 2. Tìm hiểu phong tục tập quán, nghiêm túc chấp hành điều kiêng. 3. Học tiếng địa phương, dạy hát, dạy chữ, gây tình cảm tốt với dân. 4. Tuỳ nơi, tuỳ lúc mà tuyên truyền cách mạng cho thích hợp. 5. Làm cho dân thấy mình là người đứng đắn, chăm công việc, trọng kỷ luật; do đó dân càng tin và giúp ta.

Năm điều nên tránh là: 1. Tránh việc gì làm thiệt hại đến dân, làm bẩn, làm hỏng nhà cửa ruộng vườn của dân. 2. Tránh năn nỉ mua hoặc mượn thứ gì cho bằng được. 3. Tránh sai lời hứa. 4. Tránh phạm đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng của dân. 5. Tránh lộ bí mật (1) Ngày 27-01-1941 (mồng 1 tháng Giêng năm Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong cơ quan đi chúc Tết nhân dân hai làng Nậm Quang và Nậm Tẩy (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc). Người mặc bộ quần áo Nùng màu chàm, đầu vấn khăn, tay chống gậy, đi thăm hỏi từng gia đình. Theo phong tục người Nùng ở đây, Nguyễn Ái Quốc tặng mỗi nhà một tờ giấy hồng điều, trên đó Người viết dòng chữ Hán “Cung chúc tân niên” (Chúc mừng năm mới). Các cháu nhỏ nhận được tiền phong bao, mỗi gói một xu đồng.

Ngày 28-01-1941, Nguyễn Ái Quốc lên đường về nước. Khi bước tới cột mốc 108 nằm trên biên giới Việt -Trung (thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), Người đứng lặng hồi lâu, xúc động. Đồng chí Lê Quảng Ba có mặt trong khoảnh khắc đấy kể lại: “Vượt lên một đoạn dốc ngắn rồi xuống một sườn núi dài lởm chởm đá, hoa lau dọc sườn núi phớt nâu rung rinh trong nắng. Tôi đã nhận ra cây mậy rẫy (cây si) xum xuê như một cây đa cổ thụ, mọc không xa mốc đá 108. Mốc đá như một tấm bia, hai mặt có khắc chữ Trung Quốc và chữ Pháp. Bác dừng lại cúi đọc những chữ khắc sâu trên đá. Rồi Người hướng tầm mắt nhìn vọng hồi lâu về dải đất Tổ quốc trùng điệp. Thấp thoáng dưới xa một cụm nhà nhỏ trong lũng ngô. Bác dừng lại một chút nữa bên một dãy ghế đá thiên nhiên có nhiều hình dạng. Người nhìn sâu vào khoảng đất trời Tổ quốc biết bao đẹp đẽ nhưng đang đầy đau thương. Từ mốc 108 nhìn về nam chỉ thấy những ngọn núi nhấp nhô. Người đã xúc cảm những gì, đã suy nghĩ những gì trong giây phút lịch sử đó? Đứng cạnh Bác trên dải mốc biên giới đã quen thuộc ấy, nghĩ tới quê hương thân thiết ruột rà, tôi cảm thấy mình vô cùng gần gũi Bác như đứa con yêu quý ở bên cha, như người chiến sĩ đứng sau lá cờ người tổng chỉ huy sẵn sàng nhận lấy nhiệm vụ khó khăn nhất”(2).

Ngày 08-02-1941, Nguyễn Ái Quốc đến ở hang Cốc Bó với bí danh Già Thu. Người sáng tác bài thơ: Pác Bó hùng vĩ: “Non xa xa, nước xa xa; Nào phải thênh thang mới gọi là; Đây suối Lênin, kia núi Mác; Hai tay xây dựng một sơn hà”(3). Dùng tảng đá bên bờ suối Lênin làm bàn viết, Nguyễn Ái Quốc dịch tiếp (Người đã dịch một phần khi ở Trung Quốc) cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Nga (tóm tắt) ra tiếng Việt, để làm tài liệu huấn luyện đảng viên. Người còn làm bài thơ Tức cảnh Pác Bó: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang; Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng; Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng; Cuộc đời cách mạng thật là sang”(4).

Sau khi xảy ra việc hai quần chúng cơ sở của cách mạng đi liên lạc cho đoàn thể bị tổng đoàn bắt, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí khác đã rời Pác Bó lên Lũng Lạn, rồi qua Khuổi Nậm. Người nhiều lần vượt qua biên giới sang Tĩnh Tây và thường ở trong nhà bố con ông Trương Đình Duy, Trương Kỳ Siêu ở Long Lâm. Người hay cải trang làm một thầy địa lý (phong thuỷ).

Đồng chí Đại Lâm từng tham gia bảo vệ Người, nhớ lại: “Từ tháng 3 – 1941, để đảm bảo sức khoẻ cho Bác, các đồng chí dựng lán bí mật ở khe suối Khuổi Nậm, giống như nhà sàn, mời Bác sang ở. Tại đó, khi cần, Bác có thể đi theo khe lên thượng nguồn sang đất Trung Quốc. Khi các tổ chức quần chúng Pác Bó đã vững mạnh hơn, Bác thường xuống nhà chơi, nói chuyện với bố tôi.

Có lần Bác đến và ở lại ăn cơm chiều. Trong bữa cơm, hai cụ mời rượu nhau. Lần này, Bác đã nói được tiếng Nùng. Đến khuya, Bác trở về lán Khuổi Nậm. Bố tôi tiễn đến chân rừng. Về nhà, ông cụ gọi bảy anh em tôi lại kể chuyện cuộc kết nghĩa huynh đệ giữa bố tôi và già Thu (tức là Bác). Tháng 3 – 1942. Tôi lên cơ quan Khuổi Nậm không ngờ gặp lính đế quốc Pháp đi tuần tiễu. Tôi định chạy. Nhưng chạy chúng sẽ bắn theo. Tôi thoáng nghĩ dù chết còn gây được tiếng súng nổ, để Bác và các đồng chí trong lán Khuổi Nậm nghe tiếng, biết mà chạy trốn. Thế rồi tôi vùng chạy… Thế là chúng bắn thật. Nó bắn đón đường! Tai tôi ù lên không còn nghe thấy gì nữa, cứ tiếp tục chạy, theo hướng biên giới. Tim tôi đập thình thình như trống đánh. Đến mốc biên giới 108, tôi gặp các cán bộ bí mật cùng ở lán Khuổi Nậm. Hỏi thăm Bác, biết Bác đã chạy thoát khi nghe hai tiếng súng nổ đã rút theo khe suối lên biên giới. Tôi sung sướng đến chảy nước mắt”(5).

Từ ngày 10 đến 19-5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(6). Theo sáng kiến của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị đã quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi mang tên Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.

Đến giữa năm, tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc tổ chức lớp huấn luyện chính trị -quân sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương. Người trực tiếp giảng bài, đồng chí Đức Thanh đi sát giúp đỡ học viên hằng ngày. Trong buổi khai mạc lớp học, sau khi đồng chí Đức Thanh phổ biến chương trình lớp học, Nguyễn Ái Quốc giảng bài tình hình thế giới.

Người chỉ rõ: “Bọn phát xít đã tấn công Liên Xô, Tổ quốc của cách mạng thế giới, nhưng nhân dân Liên Xô nhất định sẽ chiến thắng. Việt Nam ta cũng đứng ở trong phe dân chủ mới, ủng hộ Liên Xô chống lại phe phát xít”(7). Sau bốn ngày huấn luyện, các học viên tập vận dụng những điều đã học vào công tác vận động quần chúng. Nguyễn Ái Quốc đóng vai một quần chúng, các học viên làm người tuyên truyền cách mạng. Sau khi học tập, Người nhận xét chỗ sai, chỗ đúng của từng học viên.

Triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 về tổ chức Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc viết thư Kính cáo đồng bào gửi các tầng lớp nhân dân cả nước. Cuối thư, Người kêu gọi: “…Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thểđồng bào tiến lên! Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật! Việt Nam cách mạng thành công muôn năm! Thế giới cách mạng thành công muôn năm!”(8).

Cuối tháng 6, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu các đồng chí Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp) và Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng) chọn một số thanh niên Cao Bằng đi học lớp vô tuyến điện ở Liễu Châu (Trung Quốc). Mỗi học viên được nhận một tên mới, lý lịch mới và thống nhất gọi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là ông Hoàng Quốc Tuấn. Nguyễn Ái Quốc viết một số bài đăng trên báo Việt Nam độc lập như: Khuyên đồng bào mua báo Việt Nam độc lập, Hoan nghênh thanh niên học quân sự, Dân cày, Phụ nữ, Công nhân, Trẻ con, Ca binh lính, Thế giới đại chiến và phận sự dân ta, Ca đội tự vệ, 10 điều nên.. Người còn viết diễn ca Mười chính sách của Việt Minh và viết tác phẩm Cách đánh du kích gồm 13 chương.

Sau hội nghị Trung ương 8, Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần quay lại Tĩnh Tây công tác. Để có điều kiện hoạt động tốt hơn, Người và các đồng chí đã kết nghĩa với những bà con nông dân theo phong tục truyền thống là xếp ngôi thứ anh, em cùng chia ngọt sẻ bùi, sướng khổ có nhau. Phía Việt Nam, ngoài lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn có các đồng chí Lê Quảng Ba, Trần Sơn Hồng (Hoàng Sâm), Hoàng Quốc Vân, Dương Đại Lâm, Dương Đại Xuân cũng tham gia kết nghĩa. Người thường đến tạm trú trong nhà anh cả Trương Đình Duy và anh hai Lâm Bích Phong như một thành viên trong các gia đình đó. Một số lần Người cũng đến ở trong nhà Từ Vĩ Tam. Có thời kỳ quân Quốc dân đảng thường lục soát bất ngờ nên Từ Vĩ Tam đã đưa Người vào ở tạm trong hang núi Phong Nham và nhờ Hoàng Tài Hán, một người nấu rượu, chăm sóc cơm nước cho Người.

Khoảng đầu tháng 10 tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc gặp Lê Thiết Hùng mới ở Trung Quốc về nước. Sau một thời gian ngắn, Người giao cho một số đồng chí cùng cộng tác mở lớp huấn luyện quân sự. Đồng chí Lê Thiết Hùng kể lại: “Không một khó khăn, gian khổ nào làm cho Bác chùn bước, càng khó khăn, gian khổ Bác càng tỏ ra vững vàng, sáng suốt. Bác đã nhìn thấy khả năng tiềm tàng của ta và sự diệt vong tất yếu của kẻ thù. Bác rất chú ý việc huấn luyện quân sự cho quần chúng cách mạng. Bác bảo các anh Lê Quảng Ba, anh Hoàng Sâm và tôi phải cấp tốc mở ba lớp huấn luyện liên tiếp cho cán bộ quân sự cấp huyện, cấp tỉnh.  Bác nói:  Giờ là  lúc phải tổ chức võ trang cho tới tận các địa phương.

Phải làm gấp, nếu chần chừ sẽ không kịp đâu. Chẳng mấy chốc mà Hồng quân sẽ tiêu diệt bọn phátxít, lúc bấy giờ ta phải có đầy đủ lực lượng để có thể đứng lên giành chính quyền… Mặc dù không có được tầm nhìn xa và sự nhận định, phân tích khoa học sáng suốt như Bác, nhưng vốn tin sâu sắc ở Bác, lại chịu sức hút mạnh của niềm lạc quan tin tưởng sắt đá của Bác, chúng tôi ai nấy đều phấn khởi, lao vào công tác không kể ngày đêm”(9). Nguyễn Ái Quốc đến dự lễ thành lập đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng. Nói chuyện với đội, Người nhắc nhở phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt; đối với dân phải như cá với nước. Sau đó, Người trao cho các đồng chí Lê Thiết Hùng và Lê Quảng Ba một tờ giấy ghi mười điều kỷ luật của đội và những nguyên tắc hoạt động của đội. Nguyễn Ái Quốc còn biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện cho họ. Đồng chí Hoàng Tô, thành viên đội vũ trang, nhớ lại: “Thỉnh thoảng đi công tác về, chúng tôi lại được Bác chia cho kẹo. Hỏi đồng chí Cáp mới biết đó là quà của nhân dân Pác Bó đi chợ mua về biếu Bác.

Bác chỉ ăn một, hai chiếc. Còn bao nhiêu gói lại, cất vào ống tre, Bác bảo: Để dành cho các chú ấy đi công tác về ăn. Quà Bác tuy nhỏ, nhưng cử chỉ của Bác là cả một tình thương, có sức động viên chúng tôi rất mạnh. Mỗi lần đi lâu ngày mới về, bao giờ Bác cũng dặn đồng chí cấp dưỡng cố gắng tìm mua thức ăn về “thết tiệc” anh em. Gọi là tiệc, nhưng chỉ thêm vài miếng thịt lợn luộc chấm muối. Ở hang, nhưng hàng ngày Bác vẫn giữ đúng giờ giấc.

Đến giờ, nếu ai ngủ chưa dậy thì Bác khẽ đánh thức. Song, đối với anh em chúng tôi mới đi công tác về, Bác bảo anh em khác phải im lặng, giữ ý từng bước chân, để chúng tôi được ngủ thêm một lúc. Tôi còn nhớ một lần, đồng chí Đức Thanh đi công tác về bị ốm, nằm liệt giường. Bác buồn lắm. Bác bảo đồng chí Cáp vào rừng lấy lá thuốc về cho đồng chí Thanh uống và xông. Chốc chốc Bác lại đến sờ trán đồng chí Đức Thanh”(10).

Tết dương lịch năm 1942, Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ Chúc năm mới đăng trên báo Việt Nam độc lập. Với bí danh Thu Sơn trong bộ quần áo Nùng bạc màu, đầu đội mũ vải, lưng đeo túi vải, chân đi đôi hài bằng rơm, tay chống gậy, Người chuyển đến ở nhà đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) tại châu Nguyên Bình trong một thời gian. Tại đây, Người mở lớp chính trị tại hang Kéo Quảng (xã Gia Bằng) thuộc châu Nguyên Bình (Cao Bằng) là châu “Việt Minh hoàn toàn”.

Sau mỗi bài giảng, Nguyễn Ái Quốc thường giải đáp những thắc mắc do học viên nêu ra. Nguyễn Ái Quốc “ăn Tết” nguyên đán Nhâm Ngọ ở Khuổi Nậm.

Người tiếp một số nam nữ thanh niên ở địa phương lên chơi, chúc Tết. Người gửi lời chúc Tết người già và dân làng và trao những đồng chinh có phong giấy hồng điều gửi mừng tuổi các cháu nhỏ. Người còn tặng quà cho nữ đồng chí Nông Thị Trưng, một cán bộ mới hoạt động thoát ly, theo phong tục Tày.

Chị Trưng kể: “Ngoài công việc Chú còn dành cho tôi tình cảm sâu rộng của một người cha. Thỉnh thoảng, Chú lại hỏi tôi: “Cháu có khoẻ không? Cháu thèm ăn gì?”. Có lần tôi trả lời: “Cháu thèm ăn xôi lắm”. Thế là Chú Thu bảo đồng chí Lộc đi lấy gạo nếp nấu cho tôi ăn. Tết năm ấy lần đầu tiên xa gia đình, tôi muốn về thăm mẹ, thăm em và bản làng. Nhưng Chú Thu không cho về.

Chú khuyên: “Bọn mật thám thường giăng lưới bắt cán bộ cách mạng vào

dịp này, vì người thân thích thường hay sum họp vào ngày Tết. Cháu về tức là đem thân vào miệng cọp”. Tôi tủi cực quá, nước mắt cứ giàn ra. Chú Thu cũng ngậm ngùi, lấy cho tôi chiếc khăn mùi xoa có hoa đỏ và chiếc còng gà luộc. Chú bảo: “Quà tết của cháu đây. Cháu lau nước mắt đi rồi ăn còng gà. Ở gia đình cách mạng rồi cháu cũng sẽ vui như ở nhà mình thôi”(11).

Cũng trong thời gian này, tác phẩm Lịch sử nước ta do chính lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản lần đầu tiên. Bản diễn ca lịch sử này gồm 208 câu thơ lục bát, giảng giải lịch sử nước ta từ thời vua Hùng dựng nước (năm Nhâm Ngọ 2879 trước Công nguyên) đến năm 1945, tập trung chủ yếu vào truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân ta, nêu bật truyền thống yêu nước, bất khuất và đoàn kết của dân tộc. Mở đầu tác phẩm này, Người viết: “Dân ta phải biết sử ta; Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam; Kể năm hơn bốn ngàn năm; Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà”. Người rút ra một kết luận có tính nguyên tắc, một bài học rất lớn về đoàn kết: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!”. Cuối tác phẩm là mục: “Những năm quan trọng”, ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc “Trước Tây lịch”, “Sau Tây lịch”, Người đã khẳng định trước một mốc lịch sử: 1945 Việt Nam độc lập(12).

Tháng 6 – 1942, sau khi đi công tác ở Hòa An, Nguyễn Ái Quốc cải trang thành thầy lang để quay lại Pác Bó, Người được Kim Đồng đưa đường về đến nơi an toàn. Trong khi chờ bắt liên lạc với nước bạn, Nguyễn Ái Quốc đã dạy chữ cho cán bộ ở Pác Bó. Ngày 13-8-1942, lấy tên mới là Hồ Chí Minh, Người lại lên đường đi Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn