Một số trận đánh dưới góc nhìn của một ký giả Pháp
Béc-na-phôn (Bernard Fall) là một nhà báo với những tác phẩm về Đông Dương, về Việt Nam. Ông đã viết cuốn sách “Đông Dương 1945 – 1962: Biên niên sử về một cuộc chiến tranh cách mạng” (indochine 1945-1962: Chronique dune guerre revolutionaire ) do Nhà xuất bản Rô-be Lap-phông (Robert Laffont) xuất bản tại Pa-ri năm 1962, trong đó có trận Đắc Đoa ngày 17 tháng 2 năm 1954, trận Pleiring ngày 22 tháng 3 năm 1954, trận Chư Đờ-rê ngày 17 tháng 7 năm 1954.
Trận tiêu diệt cứ điểm Đắc Đoa (17/2/1954)
“…Với sự kiên trì, Trung đoàn 803 đã liên tục hoạt động vây quanh Binh đoàn cơ động 100 và cuối cùng họ đã tiếp cận Đắc Đoa – một cứ điểm cách Kon Tum 28km..
Trung đoàn 803, coi như một đơn vị “thần thoại”, có mặt khắp nơi. Họ có khả năng hoạt động rộng rãi trên những chặng đường dài khoảng 50km trong một ngày, để dựng nên những trận phục kích… Từ ngày 17 tháng 2 năm 1954, con đường từ Pleiku đến Đắc Đoa bị Việt Minh uy hiếp và chỉ có được một đoàn xe mãi chiều tối mới đến tiếp tế được cho Đắc Đoa. Viên Trung úy Boát-xi-nô (Boissinot), chỉ huy đoàn xe, quyết định ở lại qua đêm trong cứ điểm để sáng hôm sau về lại Pleiku.

Đêm ấy, Trung đoàn 803 đã mở trận tiến công một cách mẫu mực và quyết liệt. Họ xé rào bằng những ống bộc phá đầy hiệu lực. Những lưới thép gai đã không còn là một sự che chở hiệu nghiệm. Những lô cốt từng làm yên lòng quân sĩ, thì nay nó đã không thể chiu đựng nổi với những cú đạn SKZ. Đến 3 giờ 35 phút, đối phương bắn dồn dập với một cường độ mãnh liệt với nhiều loạt đạn… Bộ phận điện đài chính bị phá hỏng, buộc phải duy trì liên lạc qua máy điện đài phụ của trinh sát pháo binh… Viên sĩ quan trẻ, Trung úy Tuốc-giơ-rông (Touregeron), chỉ huy cứ điểm bị thương nặng. Và từ đó, viên Trung úy Boát-xi-nô (Boissinot) mới đến thay vị trí chỉ huy Dắc Đoa… Trong khói lửa lan rộng những tiếng thét lanh lãnh “Tiến lên! Tiến lên!” vang dậy, những đợt xung phong rầm rộ vượt qua. Theo yêu cầu của trinh sát pháo binh, pháo 105mm, lập tức dội một trận mưa đạn vào xung quanh cứ điểm. Tuy nhiên, bộ đội Việt Minh đã siết chặt hàng ngũ, kịp thời áp sát các lô cốt và nhanh chóng đập tan sức đề kháng còn lại. Lúc 3 giờ 30 phút Trung úy Gác-ni-ê (Garnier), trinh sát pháo binh đã đưa ra bức điện cuối cùng: “Chúng nó mới chiếm nửa cứ điểm, tiếp tục bắn!”. Sau đó, đài phát của trinh sát pháo binh đã truyền đi một bức điện mà… với một giọng nói lạ, nhưng bằng tiếng Pháp rất chuẩn: “Ngừng bắn! Ngừng bắn! Đồn đã bị hạ rồi!” (đó là lời nói của anh Phan Hàm chỉ huy 803). Nhưng các pháo đội nghi ngờ, vẫn không ngừng nhả đạn… 15 phút sau, người ta không còn nghi ngờ gì nữa về số phận của cứ điểm. “Chúng tôi yêu cầu các bạn ngừng bắn!”. Đúng là giọng nói của Xê-ri-nhắc (Serisgnac) viên đội xếp của cứ điểm… Lúc 4 giờ 25 phút, Trung úy Boát-xi-nô đã xác nhận rằng Đắc Đoa đã bị chiếm và anh đã là tù binh của Việt Minh… Lúc 11 giờ 30 ngày 18, lệnh của tướng Đờ Bô-pho (De Beaufort) bác bỏ việc đối phương cho phép đưa đến Đắc Đoa 5 xe cứu thương, không vũ khí để đưa thương binh về. Bởi vì lúc này tôi nghĩ, Trung đoàn 803, không phải là không cảm xúc, chắc chắn đó là tình cảm của người nghĩa hiệp. (Par moment, le Regiment 803 n etait pas insensible a certains sentiments chevaleresques). Lệnh đó của tướng Đờ Bô-pho đã gây sự phẫn nộ trong sĩ quan và binh lính, xem đó là sự hèn nhát bỏ rơi hàng chục binh lính của mình trước cái chết từ từ… Mãi đến ngày 21 tháng 2 một người lính tên Mác-xen Mi-lơ (Marcel Miller) là người bị thương được cho về, mang theo một mảnh giấy của người chỉ huy Trung đoàn 803: “Cho phép 5 xe cứu thương, không vũ khí, được đi lại để đưa người bị thương về”. Lần này người chỉ huy Quân khu mới chịu cho xe cứu thương đưa thương binh về… Tất cả người bị thương đều được đối phương băng bó và đối xử tử tế… Thất bại Đăc Đoa đã gây thiệt hại nặng cho Binh đoàn cơ động 100: 3 sĩ quan và trên trăm binh lính bị chết, bị thương, bị bắt…”
Trận tập kích Pleiring ( 22/3/1954 )
“…Những cuộc đụng độ đầu tiên với Binh đoàn cơ động 100 cũng đủ để lại cho hai Trung đoàn Việt Minh hoạt động ở Nam Tây Nguyên định hình được chiến thuật phù hợp mà họ sẽ phải áp dụng trong những tháng sắp đến.
Các đơn vị của họ đã được trang bị nhẹ nhàng nên có thể dễ dàng hành quân hàng trăm cây số đường dài và có tính cơ động cao, so với bất cứ đơn vị cơ giới nào buộc phải hoạt động trên các tuyến giao thông trên vùng này.
Hai Trung đoàn 108 và 803 đã phối hợp hành động với nhau một cách tuyệt vời. Trong khi Trung đoàn 108 thu hút Binh đoàn 100 vào vùng Bắc Tây Nguyên, một vùng đặc biệt không có đường sá lớn, thì một lực lượng quan trọng của 803 – hai Tiểu đoàn 39 và 59 hành quân cấp tốc vào hướng Nam – đến ngã tư đường số 7 và đường 14 hai ngày trước khi Binh đoàn 100 bắt đầu di chuyển…
Trong lúc Binh đoàn 100 đi về hướng Pleiring cách Đông Nam Pleiku 120km thì Việt Minh đã giăng bẫy chờ sẵn. Và họ đã bắt đầu hành động vào lúc 2 giờ 45 phút ngày 22 tháng 3 năm 1954.

Binh đoàn cơ động 100 vừa đến, đóng quân dã ngoại quanh một đồn nhỏ (Pleiring) kiến trúc sơ sài, mái lợp tranh, có vài lớp dây thép gai bao bọc, có tác dụng che mưa nắng cho một trung đội lính Thượng, hơn là làm điểm tựa để chống giữ đồn.
Trại đóng quân của Binh đoàn dựa lưng vào bờ sông, xe cộ sắp thành hình vòng cung. Sở chỉ huy, pháo binh và thiết giáp đóng ở giữa và 3 tiểu đoàn bố trí xung quanh. Nơi đóng quân là một thung lũng khá bằng phẳng, nhấp nhô vài quả đồi nhỏ, tương đối thuận lợi cho việc bố trí lưới lửa phòng thủ.
Lúc 2 giò 45 phút, trong khi các bót tiền tiêu quanh tuyến phòng thủ chính không thấy có dấu hiệu gì đặc biệt, thì ở khu vực đóng quân của tiểu đoàn 2, người ta phát hiện ra được những hoạt động khả nghi dọc sông.
2 giờ 54 phút, một loạt đạn súng cối các loại bất ngờ dội xuống tất cả các vị trí của binh đoàn, và ngay lúc này bộ binh địch tiến vào, bắn mãnh liệt và chính xác vào đội hình quân ta, cùng với sự yểm trợ của các súng liên thanh nặng và nhẹ… Nhiều phát đạn cối trúng ngay vào Sở chỉ huy tiểu đoàn 2 – Triều Tiên. Rồi đến 3 giờ 30 phút, một lần nữa những tiếng hô “Tiến lên!” vang dậy và quân Việt mặc quần áo đen ào ạt xông vào trận địa của Tiểu đoàn 2, ập vào vị trí của Đại đội 5, giết chết và làm bị thương nhiều người và bắt đi Đại úy Sác-pen-chi-ê (Charpentier)…
Vài người cảm tử Việt Minh đã tiến sâu vào tận trung tâm Sở chỉ huy của Binh đoàn. Đến 4 giờ 30 phút, Trung đoàn 803 phán đoán rằng, họ cần phải chấm dứt trận chiến, nếu họ muốn đặt chân tới khu rừng rậm trước lúc mặt trời mọc. Và, họ đã biến mất một cách thần tình, như khi họ đến.
Rõ ràng, Trung đoàn 803 đã hành quân bộ rất giỏi, hình như họ luôn luôn có rất nhiều thời gian để chiến thắng Binh đoàn cơ động về tốc độ. (“Le Reginent 803, bien que marchant a pied, avait donc comme toujours, amplement le temps de battre le Groupement Mobile de vitesse”).
Nguồn tin chính xác còn cho biết, Binh đoàn cơ động 100 trong trận Pleiring đã bị thiệt hại quá nặng: Số chết và số bị thương là trên 900 người, 20 xe hoàn toàn bị phá hủy, cùng 200 xe, chiến xa, đại bác bị hư hỏng nặng. Đại đội chỉ huy của Binh đoàn cơ động 100 là đơn vị chịu sự tổn thất nặng.
Cả ngày hôm đó, những máy bay lên thẳng liên tục đi và về để vận chuyển người bị thương và thi hài những sĩ quan tử trận. Các Binh đoàn 4, 2, 7 và 21 đã gửi đến Binh đoàn 100 những lời chia buồn. Trên tất cả miền cao nguyên đã kéo cờ rũ để tang 3 ngày. (“Pendant toute la journee d aujourd hui, un incessant va-et-vient d helicopteres evacua es blesses et les corps des officiers tues. Le GM 4,2,7 et 21 ont offert leurs condoleances au GM 100. Sur toute la region des plateaux, les drapeaux seront mis en berne pendant trois jours”)”.
Trận Chư-đờ-rê (ngày 17/7/1954)
“…Ngày 14 tháng 7 năm 1954, là ngày lễ của nước Pháp, 3 tiểu đoàn người Thượng của GM 42, đại đội 4 pháo binh (GAVN), Tiểu đoàn 1 và một đơn vị tăng cường là đại đội 3 của Trung đoàn 5 thiết giáp, trên đường tiến về hướng Nam của con đường dài số 14.
Đoàn quân dừng lại ở cứ điểm Ea H’leo cách Pleiku 85km. Khoảng chập tối ngày 16 háng 7 năm 1954, những đơn vị khác cũng đã kéo tới được Ea H’leo. Tất cả các Binh đoàn lại ra đi và tiến về phía trước. Thế rồi, lực lượng bộ binh, rồi pháo binh, được che chở bởi những chiến xa.
Đến buôn Ea Ten, cách 2km là đến Chư-đờ-rê. Tại đó, mênh lệnh hành quân cũng lại được ban hành. Và, Tiểu đoàn 1 – số còn lại của Binh đoàn 100, được bố trí đi sau cùng với lực lượng pháo binh. Phía trước là 3 tiểu đoàn của người Thượng. Trên cái phần thứ hai của quãng đường này, họ hiểu là số phận rất mỏng manh khi phải vượt đèo. Kiểm tra một cách thận trọng những vùng phụ cận, những chiến binh của các tiểu đoàn 1, 5 và 8 người Thượng xích lại gần nhau, ngón tay luôn luôn trên cò súng… Những chiến xa và những xe bọc thép của Binh đoàn tỏa khắp hướng, giống như những con chó béc-giê lớn lo giữ bầy đàn của nó…
Các tiểu đoàn đã đi theo một cách thận trọng. Đúng 12 giờ 15 phút, trận chiến đấu với Việt Minh đã xảy ra, sự tàn khốc đã bày sẵn ra rồi… Một loạt đạn của các súng cối 60 và 81mm cũng như của súng SKZ đã nghênh đón các đơn vị tiểu đoàn. Họ chủ yếu tấn công vào các phương tiện không bọc thép của đoàn xe. Và, trong khoảng khắc, một đoàn xe cộ bốc cháy như những bó đuốc…
Các đơn vị không còn con đường thoát. Rõ ràng, nó không có một cái hố để mà ẩn nấp, không có một chành cây nhỏ để mà che thân. Những vũ khí liên thanh của quân Việt đã bám chắc lấy con đường ở đoạn cuối đó và họ đã “bắn” vào binh lính đối phương giống như những cái bia trong một cái sân tập. (“et tiraient les hommes literalement comme des cibles dans une stade…”).
Kết quả, sau hơn 2 tiếng đồng hồ quyết chiến quân Việt đã làm chủ chiến trường. Bắn cháy, bắn hỏng 62 xe cơ giới, chết và bị bắt sống trên 500 quân. Đặc biêt, 170 chiến binh Tiểu đoàn 1 còn lại của GM 100 được bố trí ở cuối đoàn xe đã bị quân Việt bắt sống…. Ngày 19 tháng 7 năm 1954, người chỉ huy quân Việt Minh đã gửi cho người chỉ huy Pháp một thông điệp, cho phép quân Pháp được dùng phương tiện cứu thương không có vũ khí để thu nhặt số thương binh và tử sĩ của họ trong trận 17 tháng 7. Viên quan 3 bác sĩ Pa-trui-lô (Patruoilleau) cùng cha đạo Cu-ri-ơ (Currieu) đã đến để thực hiện nhiệm vụ trên.
Và, như vậy là, Tiểu đoàn 1 Triều Tiên mang lá quân kỳ Pháp của những nước liên hiệp và ngọn giáo sắt biểu tượng của Binh đoàn cơ động 100 đã chấm dứt sự tồn tại… Họ đã hiểu tiếng kêu cứu trong giờ phút cuối cùng của họ. Những người đã từng chiến đấu với quân Trung Quốc trên các mặt trận ở Triều Tiên, họ đã theo dõi cơn ác mộng ở An Khê và họ đã bị nhốt ở cây số 15, đi đến tiếp là 3 ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh này đã kéo dài sau 8 năm. Như vậy là, Tiểu đòan 1 và Binh đoàn cơ động 100 đã làm tròn nghĩa vụ của họ đến phút cuối cùng…”.
Đại tá Võ Văn Minh
CCB Trung đoàn 803, nguyên Trưởng phòng Lịch sử Quân khu 4
http://baoquankhu5.vn/42793-2/



