MỘT TẤC KHÔNG ĐI, MỘT LY KHÔNG RỜI
Tháng 2 năm 1979, một dấu mốc lịch sử đầy cam go, nơi thế hệ cha ông chúng ta đã chiến đấu kiên cường để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Tôi đã có cơ hội lắng nghe những hồi ức chân thực từ ông Hoàng Minh Phương, một anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, một cựu chiến binh đã trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc.
Câu chuyện của ông là một minh chứng sống động cho tinh thần, quả cảm và sự hy sinh cao cả của người lính nơi biên cương. Ông Hoàng Minh Phương sinh năm 1956 tại vùng đất xã Mường Hum, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Năm 20 tuổi, ông nhập ngũ và được huấn luyện tại tiểu đoàn 64, trung đoàn 254 năm 1978. Đơn vị của ông được đều điều động lên vùng biên giới phía Bắc, chuẩn bị cho những diễn biến căng thẳng ông Phương nhớ lại.
Tại thời điểm đó, không khí tại biên giới đã rất ngột ngạt, những hành động khiêu khích, quấy rối từ phía Bắc, bên bên kia biên giới diễn ra ngày càng nhiều khiến mọi người luôn trong tâm thế sẵn sàng chiến đấu. Ông Phương được phân công nhiệm vụ tại một chốt chặn trọng yếu, Ông nhớ rõ buổi ngày 16 tháng 2 năm 1979 không khí trên chiến trường dường như lắng xuống 1 cách lạ thường yên tĩnh đến đáng sợ, ông kể không còn tiếng chặt cây không tiếng máy móc chỉ có sự im lặng bao trùm khiến chúng tôi biết rằng điều gì đó khủng khiếp sắp xảy ra.
Và rồi đúng như dự đoán, vào khoảng bốn giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979 quả pháo đầu tiên đã nổ vang trời tung vào đồn biên phòng. Tiếp đó là hàng loạt tấn công dồn dập, dữ dội từ phía địch. Ông Phương và đồng đội nhanh chóng vào vị trí chiến đấu tương quan lực lượng quá chênh lệch quân địch có lực lượng áp đảo tuy nhiên với phương châm 1 tất không đi 1 li không rời những lính những người lính ấy đã anh hùng bám trụ.
Ông Phương kể về những ngày tháng chiến đấu khóc liệt ngày 18 tháng 2, sau khi chúng tôi bẻ gãy nhiều đợt tấn công địch điên cuồng bắn phá đơn vị, chúng tôi hy sinh rất nhiều lúc đó là tiểu đội phó tiểu đội trưởng đã hy sinh tôi phải gánh vác trách nhiệm chỉ huy, chúng tôi chỉ còn lại vài người bị thương nặng nhưng vẫn kiên cường chiến đấu.
Có những lúc tôi tưởng mình không thể sống sót trở về ông mô tả lại cảm giác vừa đói vừa khát vừa bị thương, nhưng ý chí thì chưa bao giờ nao núng chính sự quả cảm và quyết tâm ấy đã giúp đơn vị cầm cự để gửi nhiều đợt tấn công của địch
Mỗi lần nhắc về quá khứ là đôi mắt đỏ hoe ấy lại chất chứa bao nỗi đau và giọng ông lại nghẹn lại. Ông mang trong mình những di chứng của cuộc chiến và trở thành bệnh binh. Ông muốn thể thế hệ trẻ ngày nay hiểu rõ hơn về giá trị của Hòa Bình, về những hy sinh của các thế hệ đi trước để bảo vệ đất nước.
Tôi lưu giữ những huân chương, bằng khen không phải vì ham hư vinh, mà là để nhắc nhở bản thân và thế hệ trẻ rằng, “ chúng ta phải biết trân trọng những gì cha ông đã đánh đổi” ông nói, sự kiên cường của chú không chỉ dừng lại trên chiến trường năm 1979 nó tiếp tục sống mãi trong cuộc sống giản dị khiêm tốn của chú tại vùng đất hôm nay, chú nói còn sống trở về đã là may mắn hơn nhiều đồng đội. Một sự rung động sâu sắc trong lòng dâng lên, trong lòng tôi đó là nỗi đau âm ỷ của người chiến thắng, là sự biết ơn không lời dành cho những người đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi biên cương.
Một thế hệ tương lai của đất nước tôi không chỉ học tập tốt để xây dựng đất nước giầu mạnh mà còn là người giữ lửa người kể chuyện.


