Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Một tháng phép – một đời nhớ mãi

Giữa năm 1974, sau nhiều năm liên tục chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, tác giả được nghỉ phép trở về quê hương. Những ngày đoàn tụ với gia đình, thắp hương cho bà ngoại, gặp lại bà con làng xóm và tận hưởng bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm đã trở thành ký ức không thể nào quên. Trong dịp nghỉ phép, tác giả lần đầu gặp gỡ cô giáo sinh viên y khoa Lê Thị Huy, để lại những rung động chân thành của tuổi trẻ giữa khói lửa chiến tranh. Dẫu đứng trước mong muốn của gia đình về chuyện lập gia đình, tác

Lai Châu02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trung tuần tháng 7 năm 1974, cấp trên có chủ trương cho cán bộ từ cấp đại đội trở lên lần lượt đi phép, tôi được đi đợt đầu. Nghe thông báo, tôi bàn giao công việc cho Đại đội phó Thìn rồi cùng liên lạc ra ngay Sở Chỉ huy Trung đoàn ở sông Nhùng. Tiểu đoàn 8 có bốn đồng chí đi phép thì ba đồng chí là chính trị viên đại đội, tôi được cấp trên chỉ định chỉ huy nhóm này. Trung đoàn đi phép gồm hơn 30 đồng chí do Chính ủy Hồ Sỹ Nguyên chỉ huy, đi trên chiếc xe Gát 63. Xuất phát từ điểm cao 30 (bắc sông Nhùng) ra đến Đông Hà khoảng hơn 20km mà xe bị hỏng nhiều lần, xe lại khá chật chội. Đến thị xã Đông Hà, Chính ủy lấy tinh thần xung phong, bốn đồng chí Tiểu đoàn 8 giơ tay xin đi xe ngoài, được Chính ủy cho thêm bốn ngày phép. Chúng tôi mừng quá, bắt xe khách đi luôn ra Hồ Xá - Vĩnh Linh. Xe chạy liên tục đến gần 21 giờ đêm thì ra đến ga Vinh. Ngồi trên xe mà lòng cứ bồi hồi, lâng lâng khó lả. Gần đến ga đã nghe tiếng còi tàu, bác tài xế bảo cứ bình tĩnh, may ra còn kịp. Chúng tôi xuống xe, mua vé kịp ngồi gọn vào thì tàu chạy. Chúng tôi lần lượt chia tay tại các ga Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, rồi chỉ còn mình tôi ra tiếp Hà Nội. Chiều hôm sau, tàu vào ga Hàng Cỏ. Tôi đeo ba lô, túi xách xuống tàu vào mua vé, cứ ngơ ngác, đường đi lối lại, bến tàu, sân ga... tất cả đều mới biết. Mua được vé lên tàu, tàu chạy đến ga nào tôi cũng phải hỏi, đến Việt Trì thì tàu mới dừng. Tôi xuống ga, mọi người tỏa đi các hướng, chỉ còn lại một mình, tôi loay hoay không biết đi đâu thì gặp hai cô nhân viên nhà ga. Thấy tôi mặc quân phục, đeo xà cột, súng ngắn, ba lô, các cô cười: Hình như anh bộ đội ngủ quên! Tôi nói muốn xuống ga Hướng Lại nhưng tàu không dừng. Một cô bảo, anh bộ đội ơi, đây là tàu nhanh nên không dừng nhé. Các cô chỉ tôi vào phòng bảo vệ chờ chuyến tàu xuôi lúc 4 giờ sáng. Lên tàu rồi xuống ga Hướng Lại, trời còn tối, tôi ra đường số 2 về Vĩnh Tường. Từ huyện qua Thượng Trưng về nhà đã hơn 7 giờ sáng. Thấy chú bộ đội đeo ba lô đi trên đường ai cũng quay lại nhìn. Thời đó cả nước lên đường ra trận, nhiều người có người thân đi lâu không có tin tức, ai cũng mong mỏi người thân trở về.


Về đến đầu làng, nhiều người nhận ra tôi, tay bắt mặt mừng ríu rít hỏi chuyện, vào sân vừa đặt ba lô xuống thì bố mẹ, các em đi làm đồng cũng về tới nhà. Mẹ tôi bảo, thấy người ta nói con về, thế là mừng quá mẹ bỏ lại tất cả, chạy về luôn. Ngoảnh trước, ngó sau chỉ một khoảnh khắc mà người đến thăm đã chật ních trong nhà ngoài sân, ai cũng mừng cho tôi mạnh khỏe, tiến bộ và may mắn được trở về... Ăn cơm trưa xong, việc đầu tiên là tôi cùng mẹ đến thắp hương bà ngoại, bà đã về với tổ tiên ngày 25 tháng 12 năm 1971 (âm lịch). Những ngày cuối cùng trên giường bệnh, bà vẫn thường nhắc đến tôi, thương tôi còn nhỏ tuổi đã ra đi gánh vác việc nước nhà.


Gần một tháng đi phép, ngoài anh em mời bữa cơm thân mật ra, còn lại tôi vẫn ăn cơm với bố mẹ, các em. Hai, ba ngày đầu, ngày cuối có thịt gà, các bữa còn lại vẫn đạm bạc như xưa, trên mâm vẫn với đĩa rau muống luộc, dưa, cá, canh cua, cơm độn sắn, khoai nhưng thật ấm cúng, hạnh phúc. Các em tôi đều đi học, chỉ có cô em gái Sến đi lấy chồng đã có con, thêm cô em út Tuyết sinh cuối năm 1968 còn nhỏ, được bố mẹ nuông chiều nhất nhà.


Lần này về phép, bố mẹ tôi ướm thử chuyện lấy vợ, nhưng tôi không nói gì, toàn đánh trống lảng. Một buổi tối, sau khi khách ra về chỉ còn lại bố mẹ và các em, vẻ nghiêm trang, mẹ tôi nói: "Con cũng lớn rồi, lần này về cưới vợ để bố mẹ có cháu bế, cháu bồng". Ngồi im một lúc, tôi bình tĩnh trả lời: Về phép xong con còn đi lâu dài, chiến đấu gian khổ, ác liệt. Lần này về, con chưa nghĩ tới chuyện đó. Nhưng bố mẹ tôi chưa chịu, cứ giới thiệu một, hai cô gái trong làng mà gia đình cân nhắc kỹ càng từ trước.


Vẫn trong dịp nghỉ phép đó, vào một buổi chiều đâu tháng 8, Thiều Chí Vũ đến chơi. Hai anh em ngồi vui chuyện, rồi Vũ rủ tôi sang nhà bạn học cùng lớp, đó là Lê Thị Huy. Chúng tôi vào cổng gặp Huy từ trong nhà cầm cái rổ đi ra ruộng hái rau. Đứng một lát, em mời chúng tôi vào nhà chơi. Pha trà mời nước, nói dăm ba câu chuyện xã giao, khoảng 30 phút thì chúng tôi xin phép ra về để em còn nấu cơm. Trên đường về nhà, Vũ hỏi tôi thế nào, có được không? Tôi ậm ừ trả lời cho qua chuyện.


Theo hẹn, sáng hôm sau hai chúng tôi lại đến chơi, vì chiều cô ấy lên trường. Huy đang học Trung cấp Y Phú Thọ. Chúng tôi hẹn thứ bảy tuần sau có dịp lại đến chơi. Gặp nhau được vài lần thì tôi chuẩn bị hết phép, mức độ hai bên mới chỉ quen biết nhau, chưa hứa hẹn gì. Lúc chia tay, tôi tặng Huy tấm ảnh thời học viên sĩ quan làm kỷ niệm.


Sau khi chia tay Huy, về nhà trằn trọc suốt đêm không ngủ, có điều gì đó cứ xao xuyến trong lòng. Sáng ra, bố mẹ tôi làm mâm cơm cúng tổ tiên, ông bà. Tôi ăn bữa cơm chia tay gia đình, rồi chú Hạc em rể đạp xe chở tôi xuống bến phà qua sông, sang Sơn Tây về Hà Nội, từ đó đi xe lửa đến Vinh rồi bắt xe đi Quảng Trị vào Đông Hà và về đơn vị.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn