MỘT THỜI HOA LỬA 1. ĐIỂM TỰA
Tôi sinh ra tại làng Nhạo Sơn, xã Thụy Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Vì quê nghèo, đất chật người đông, mùa hè năm 1961, bố tôi, một cán bộ xã hoạt động trước Tháng 8/1945, đã phải đưa gia đình đi “kinh tế mới”. Đó cũng là thời kỳ hàng vạn hộ nông dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tiến hành một cuộc đại di cư lên Lai Châu, Điện Biên, Sơn la, Nghĩa Lộ… để mưu sinh lập nghiệp. Nhưng gia đình tôi thì lại chọn thị xã Cao Bằng làm nơi định cư. Nguyên do là từ nhỏ bố tôi đã theo cha chú lên Cao Bằng làm thuê nên ông biết rõ mảnh đất “gạo trắng nước trong” này.
Ngày đó, bố tôi là một đảng viên kỳ cựu, hiếm hoi, được phân công thành lập và làm Bí thư Chi bộ đầu tiên của phố Tam Trung (phường Sông Bằng ngày nay); đồng thời làm Bí thư chi bộ đầu tiên của Hợp tác xã may Thống Nhất của thị xã Cao Bằng. Do vậy, cụ có điều kiện vừa làm kinh tế, vừa công tác xã hội. Vợ con cũng nhờ đó mà nhanh chóng vượt qua thời kỳ lạ nước lạ cái, chúng tôi đều được cắp xách tới trường.
Cao Bằng vốn là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, nhưng nghèo về kinh tế, văn hóa và sống chủ yếu bằng tự cấp tự túc. Hầu như gia đình nào cũng phải vào rừng phát nương làm rẫy, huống chi gia đình tôi người ăn nhiều hơn người làm. Vì thế, từ thuở niên thiếu, tôi đã tỏ rõ một “ấu nông tri điền”, thạo nghề nương rẫy, quen nghề gianh củi và ham mê câu cá, bắt ốc, mò cua. Chả có ngọn đồi, khe suối, vạt ổi, bụi sim nào quanh cái thị xã lòng chảo không đầy 4 km vuông ấy mà tôi không tường tỏ.
Thế rồi những năm Mỹ bắn phá miền Bắc, như bao học trò khác, tôi phảithường xuyên chuyển trường, dựng lớp, đào hầm hào, đan mũ rơm, tập kẻng báo động. Hếtsơ tán từ Nà Phía đến Tân An, từ Nà Tòong đến Nà Đỏong, rồi từ Nà Cạn ra thị xã. Một cuộc vòng vo tránh máy bay Mỹ suốt tuổi học trò. Cả cái thị xã cỏn con, chưa hề bị máy bay Mỹ bắn phá một lần, cũng tan hoangkiểu “vườn không nhà trống”, sơ tán sạch vào khe suối đồi lau.
Trong những năm khốn khó của tuổi học trò ấy, gia đình là chỗ dựa duy nhất cho chúng tôi ăn học thành người. Nhiều đêm nhìn bố tôi còm cõi, cặm cụi thâu đêm tới sáng ngồi bên bàn may để kiếm từng hào nuôi chúng tôi ăn học, tôi chạnh lòng và thấy mình càng phải có trách nhiệm hơn.
Cuộc chiến ngày càng leo thang, nhiều thanh niên quê tôi đã lên đường, danh sách người không trở về ngày càng dài ra. Hồi đó, quân đội Trung Quốc sang giúp ta làm đường quốc lộ 3. Trong con mắt chúng tôi họ thật cao lớn và nghiêm túc. Mỗi khi có việc khó, họ đều xếp hàng ngay ngắn, giở trước tác Mao Chủ tịch ra đọc là mọi việc đâu lại vào đấy. Họ cho chúng tôi từng vốc huy hiệu Chủ tịch Mao. Dạy chúng tôi nói và hát tiếng của họ. Hàng đêm chúng tôi í ới rủ nhau, xếp hàng đi theo họ xem phim Bạch Mao Nữ, Chi đội người Hồi, Lôi Phong, Rừng thẳm tuyết dày... Trên những mỏm đồi quanh thị xã là trận địa pháo cao xạ của họ.Đêm đêm, từng đoàn xe quân sự của họ rầm rì lướt qua. Sống trong không khí chiến tranh ấy, ngoài giờ học tập và nương rẫy ra, chúng tôi chỉ có một thú vuiduy nhất là chơi trận giả. Bất cứ bụi cây, mỏm đất, hố rãnh nào ven đường, ven trường cũng dễ dàng trở thành “trận địa” của chúng tôi.
Một vài năm sau, quân tình nguyện Trung Quốc về nước.Chúng tôi cũng lớn dần và đọc được một số tài liệu về các “Bức thư ngỏ” giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Liên Xô gửi cho nhau. Thực ra là họ nói xấu nhau, bên này bảo bên kia là “xét lại”. Cuộc chiến về tư tưởng ấy, thậm chí còn lây nhiễm sang một số cán bộ cấp trung ương của ta.Có người bị truy nã phải trốn Hà Nội lên tá túc tại nhà tôi. Rồi cuộc “Đại cách mạng văn hóa” của Trung Quốc bùng nổ. Nhà tôi cũng trở thành nơi trú ngụ của một trí thức Trung Quốc bị truy đuổi. Vào những năm 67– 68, cuộc chiến ở miền Nam khốc liệt, ta thực hiện “Tổng động viên”, thế là trên mảnh đất biên ải hẻo lánh này, lại xuất hiện thêm một thành phần “di cư” khác lạ. Đó là những học sinh, sinh viên trốn lính. Họ tự dựng chòi trong núi, tránh mặt người qua lại và chỉ vùi đầu vào đọc, học. Hóa ra cái mảnh đất khỉ ho cò gáy này đâu phải chỉ là nơi di chú của những người “tha hương cầu thực” như chúng tôi, mà khi cần nó sẽ là mảnh đất “cưu mang “ cho bao kẻ “bất đắc dĩ” khác.
Mặc cho cái khổ, cái nghèo đeo bám, chúng tôi vẫn cứ lớn lên như cây măng rừng bên suối ngàn trong vắt. Cả tiểu đội anh em chúng tôi, “đứa chị đi thì con dì lại lớn”, dùng lại áo quần, xách vở và kinh nghiệm sống của nhau, để lần lượt vượt qua cái thời kỳ gian khó ấy.
Bên cạnh người cha, tôi còn một điểm tựakhác, đó là tình anh em ruột thịt. Vượt qua những tính tật của tuổi thơ tinh nghịch và dại khờ, chúng tôi lớn lên trong tình đoàn kết, thương yêu và nhường nhịn lẫn nhau. Những đứa em “sàn sàn” cùng tôi chung đèn sách, chung từng trang vở, từng củ sắn, củ khoai. Vì thế, ngoài tình anh em máu mủ, chúng tôi còn là bè bạn thân thiết, là “đồng đội” trong những “trận chiến” sống mái với “quân thù” trong những đêm chơi trận giả.
Cứ thế tôi lớn lên trên một vùng đất mà mới đầu lạ hoắc, từ ngôn ngữ đến lối sống, rồi thân quen như máu thịt của mình, thậm chí còn sâu đậm hơn cả nơi chôn nhau cắt rốn. Những người cùng phố, cùng xóm như ông Đội Nhâm, bà Làn “bánh cuốn”, chú Lợi và chú Đắc “xe ngựa”, anh Trọng “thịt chó”, ông Sự “cắt tóc”, anh Song “sơn, hàn, xì xe đạp”, đến ông Nhuận, ông Thụ, bà Tuất, anh Chức, bà Hắt, cô Long, ông Dáu, cô Mùi và bao bạn bè cùng trang lứa như Báo, Trung, Công, Giang, Sòi, Chiến, Thắng…Tất cả cứ ngọt ngào in bóng vào tình cảm và trí nhớ của tuổi thơ tôi. Cái tuổi chỉ thích hấp thụ cái đẹp, cái đúng, cái hay của bạn bè bà con lối xóm và củacả cái thị xã nhỏ bé, xinh xắn bên dòng Bằng Giang và Hiến Giang thơ mộng ấy.
Mườì năm ăn học là mười năm tôi gắn bó và lớn lên trên quê hương thứ hai của mình. Cũng vì thế mà Cao Bằng đã trở thành điểm tựa không chỉ về cơm ăn áo mặc, mà còn là tinh thần và vốn tri thức của tôi trước ngày nhập ngũ
Hơn bốn mươi năm qua, ra đi từ mái nhà tranh của miền quê nghèo biên viễn, tôi đã làm việc ở trung ương gần ba chục năm, đã đi khắp mọi miền đất nước, theo dấu chân của các đội hình thanh niên xung phong và thanh niên tình nguyện. Đã đến được một số chốn trời Tây, Úc, Á…Nhưng với tôi, Cao Bằng vẫn là một miền quê yêu dấu, một điểm tựa quan trọng của đời tôi. Bây giời nơi đó, còn là nơi cha mẹ tôi đang yên nghỉ vĩnh hằng, giữa rừng thông xanh thẳm với gió ngàn vi vút. Nơi đó, luôn vẫy gọi chúng tôi trở về thăm lại những kỷ niệm xưa và nhớ về những tháng năm không thể nào qu



