MỘT THỜI HOA LỬA (2)
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi đã gần bốn thập niên, nhưng ký ức về những năm tháng hào hùng đó không phai mờ trong trái tim bao người, nhất là của những người lính, từng một thời xông pha nơi chiến trường gian khổ.Nhớ về một thời hoa lửa ấy, tôi ghi chép lại những kỷ niệm sâu sắc về đời lính sáu năm làm trinh sát pháo binh C17, Trung đoàn pháo binh 40, mặt trận Tây Nguyên (B3), sau này là Quân đoàn III, thời kỳ 1971 – 1976, qua các mốc son lịch sử như: Chiến dịch Đăk Tô -Tân Cảnh, thị xã Kon Tum, Play Cần và Đăc Siêng (1972); chống địch vi phạm Hiệp định Pa Ri (1973); giải phóng Đăk Pét (1974); tập kích chiến lược Ban Mê Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 30/4/1975.Trong quá trình viết cuốn sách này, tôi đã tham khảo thông tin trên trang mạng Wikipedia về chiến dịch bắc Tây Nguyên năm 1972, cuốn Pháo binh Miền Trung trung bộ–Tây nguyên thời đánh Mỹ của NXBQĐND, Hồi ký của Thiếu tướng Tô Thuận, Nguyên Trung đoàn trưởng E40, nguyên Phó Tư lệnh Bộ tư lệnh pháo binh và ý kiến đóng góp của các đồng đội.Tuy nhiên, do thời gian xảy ra các sự kiện đã 40 năm nên không thể tránh khỏi những sai sót, nhiều sự kiện và nhân vật chưa được nhắc đến, mong đồng đội và bạn đọc thông cảm.Xin trân trọng giới thiệu. Hà Nội, Tháng 8 năm 2012 Phần IMỘT THỜI HOA LỬA 1. ĐIỂM TỰATôi sinh ra tại làng Nhạo Sơn, xã Thụy Sơn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Vì quê nghèo, đất chật người đông, mùa hè năm 1961, bố tôi, một cán bộ xã hoạt động trước Tháng 8/1945, đã phải đưa gia đình đi “kinh tế mới”. Đó cũng là thời kỳ hàng vạn hộ nông dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tiến hành một cuộc đại di cư lên Lai Châu, Điện Biên, Sơn la, Nghĩa Lộ… để mưu sinh lập nghiệp. Nhưng gia đình tôi thì lại chọn thị xã Cao Bằng làm nơi định cư. Nguyên do là từ nhỏ bố tôi đã theo cha chú lên Cao Bằng làm thuê nên ông biết rõ mảnh đất “gạo trắng nước trong” này.Ngày đó, bố tôi là một đảng viên kỳ cựu, hiếm hoi, được phân công thành lập và làm Bí thư Chi bộ đầu tiên của phố Tam Trung (phường Sông Bằng ngày nay); đồng thời làm Bí thư chi bộ đầu tiên của Hợp tác xã may Thống Nhất của thị xã Cao Bằng. Do vậy, cụ có điều kiện vừa làm kinh tế, vừa công tác xã hội. Vợ con cũng nhờ đó mà nhanh chóng vượt qua thời kỳ lạ nước lạ cái, chúng tôi đều được cắp xách tới trường.Cao Bằng vốn là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, nhưng nghèo về kinh tế, văn hóa và sống chủ yếu bằng tự cấp tự túc. Hầu như gia đình nào cũng phải vào rừng phát nương làm rẫy, huống chi gia đình tôi người ăn nhiều hơn người làm. Vì thế, từ thuở niên thiếu, tôi đã tỏ rõ một “ấu nông tri điền”, thạo nghề nương rẫy, quen nghề gianh củi và ham mê câu cá, bắt ốc, mò cua. Chả có ngọn đồi, khe suối, vạt ổi, bụi sim nào quanh cái thị xã lòng chảo không đầy 4 km vuông ấy mà tôi không tường tỏ. Thế rồi những năm Mỹ bắn phá miền Bắc, như bao học trò khác, tôi phảithường xuyên chuyển trường, dựng lớp, đào hầm hào, đan mũ rơm, tập kẻng báo động. Hếtsơ tán từ Nà Phía đến Tân An, từ Nà Tòong đến Nà Đỏong, rồi từ Nà Cạn ra thị xã. Một cuộc vòng vo tránh máy bay Mỹ suốt tuổi học trò. Cả cái thị xã cỏn con, chưa hề bị máy bay Mỹ bắn phá một lần, cũng tan hoangkiểu “vườn không nhà trống”, sơ tán sạch vào khe suối đồi lau.Trong những năm khốn khó của tuổi học trò ấy, gia đình là chỗ dựa duy nhất cho chúng tôi ăn học thành người. Nhiều đêm nhìn bố tôi còm cõi, cặm cụi thâu đêm tới sáng ngồi bên bàn may để kiếm từng hào nuôi chúng tôi ăn học, tôi chạnh lòng và thấy mình càng phải có trách nhiệm hơn.Cuộc chiến ngày càng leo thang, nhiều thanh niên quê tôi đã lên đường, danh sách người không trở về ngày càng dài ra. Hồi đó, quân đội Trung Quốc sang giúp ta làm đường quốc lộ 3. Trong con mắt chúng tôi họ thật cao lớn và nghiêm túc. Mỗi khi có việc khó, họ đều xếp hàng ngay ngắn, giở trước tác Mao Chủ tịch ra đọc là mọi việc đâu lại vào đấy. Họ cho chúng tôi từng vốc huy hiệu Chủ tịch Mao. Dạy chúng tôi nói và hát tiếng của họ. Hàng đêm chúng tôi í ới rủ nhau, xếp hàng đi theo họ xem phim Bạch Mao Nữ, Chi đội người Hồi, Lôi Phong, Rừng thẳm tuyết dày... Trên những mỏm đồi quanh thị xã là trận địa pháo cao xạ của họ.Đêm đêm, từng đoàn xe quân sự của họ rầm rì lướt qua. Sống trong không khí chiến tranh ấy, ngoài giờ học tập và nương rẫy ra, chúng tôi chỉ có một thú vuiduy nhất là chơi trận giả. Bất cứ bụi cây, mỏm đất, hố rãnh nào ven đường, ven trường cũng dễ dàng trở thành “trận địa” của chúng tôi.Một vài năm sau, quân tình nguyện Trung Quốc về nước.Chúng tôi cũng lớn dần và đọc được một số tài liệu về các “Bức thư ngỏ” giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Liên Xô gửi cho nhau. Thực ra là họ nói xấu nhau, bên này bảo bên kia là “xét lại”. Cuộc chiến về tư tưởng ấy, thậm chí còn lây nhiễm sang một số cán bộ cấp trung ương của ta.Có người bị truy nã phải trốn Hà Nội lên tá túc tại nhà tôi. Rồi cuộc “Đại cách mạng văn hóa” của Trung Quốc bùng nổ. Nhà tôi cũng trở thành nơi trú ngụ của một trí thức Trung Quốc bị truy đuổi. Vào những năm 67– 68, cuộc chiến ở miền Nam khốc liệt, ta thực hiện “Tổng động viên”, thế là trên mảnh đất biên ải hẻo lánh này, lại xuất hiện thêm một thành phần “di cư” khác lạ. Đó là những học sinh, sinh viên trốn lính. Họ tự dựng chòi trong núi, tránh mặt người qua lại và chỉ vùi đầu vào đọc, học. Hóa ra cái mảnh đất khỉ ho cò gáy này đâu phải chỉ là nơi di chú của những người “tha hương cầu thực” như chúng tôi, mà khi cần nó sẽ là mảnh đất “cưu mang “ cho bao kẻ “bất đắc dĩ” khác.Mặc cho cái khổ, cái nghèo đeo bám, chúng tôi vẫn cứ lớn lên như cây măng rừng bên suối ngàn trong vắt. Cả tiểu đội anh em chúng tôi, “đứa chị đi thì con dì lại lớn”, dùng lại áo quần, xách vở và kinh nghiệm sống của nhau, để lần lượt vượt qua cái thời kỳ gian khó ấy.Bên cạnh người cha, tôi còn một điểm tựakhác, đó là tình anh em ruột thịt. Vượt qua những tính tật của tuổi thơ tinh nghịch và dại khờ, chúng tôi lớn lên trong tình đoàn kết, thương yêu và nhường nhịn lẫn nhau. Những đứa em “sàn sàn” cùng tôi chung đèn sách, chung từng trang vở, từng củ sắn, củ khoai. Vì thế, ngoài tình anh em máu mủ, chúng tôi còn là bè bạn thân thiết, là “đồng đội” trong những “trận chiến” sống mái với “quân thù” trong những đêm chơi trận giả.Cứ thế tôi lớn lên trên một vùng đất mà mới đầu lạ hoắc, từ ngôn ngữ đến lối sống, rồi thân quen như máu thịt của mình, thậm chí còn sâu đậm hơn cả nơi chôn nhau cắt rốn. Những người cùng phố, cùng xóm như ông Đội Nhâm, bà Làn “bánh cuốn”, chú Lợi và chú Đắc “xe ngựa”, anh Trọng “thịt chó”, ông Sự “cắt tóc”, anh Song “sơn, hàn, xì xe đạp”, đến ông Nhuận, ông Thụ, bà Tuất, anh Chức, bà Hắt, cô Long, ông Dáu, cô Mùi và bao bạn bè cùng trang lứa như Báo, Trung, Công, Giang, Sòi, Chiến, Thắng…Tất cả cứ ngọt ngào in bóng vào tình cảm và trí nhớ của tuổi thơ tôi. Cái tuổi chỉ thích hấp thụ cái đẹp, cái đúng, cái hay của bạn bè bà con lối xóm và củacả cái thị xã nhỏ bé, xinh xắn bên dòng Bằng Giang và Hiến Giang thơ mộng ấy.Mườì năm ăn học là mười năm tôi gắn bó và lớn lên trên quê hương thứ hai của mình. Cũng vì thế mà Cao Bằng đã trở thành điểm tựa không chỉ về cơm ăn áo mặc, mà còn là tinh thần và vốn tri thức của tôi trước ngày nhập ngũHơn bốn mươi năm qua, ra đi từ mái nhà tranh của miền quê nghèo biên viễn, tôi đã làm việc ở trung ương gần ba chục năm, đã đi khắp mọi miền đất nước, theo dấu chân của các đội hình thanh niên xung phong và thanh niên tình nguyện. Đã đến được một số chốn trời Tây, Úc, Á…Nhưng với tôi, Cao Bằng vẫn là một miền quê yêu dấu, một điểm tựa quan trọng của đời tôi. Bây giời nơi đó, còn là nơi cha mẹ tôi đang yên nghỉ vĩnh hằng, giữa rừng thông xanh thẳm với gió ngàn vi vút. Nơi đó, luôn vẫy gọi chúng tôi trở về thăm lại những kỷ niệm xưa và nhớ về những tháng năm không thể nào quên.
Cầu Bằng Giang của TP Cao Bằng2. NHẬP NGŨ Đang ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp lớp 10, năm học 1970 – 1971 tại trường cấp III thị xã Cao Bằng, thì tôi và hai bạn cùng lớp là Bằng và Giang nhận được giấy gọi nhập ngũ. Sự kiện này đối với tôi không có gì là bất ngờ, vì lẽ ra tôi đi bộ đội từ năm 1970,nhưng chưa đủ sức khỏe nên đành chậm lại. Tuy vậy, tôi chỉ tiếc là chưa được đọ sức sau mười năm đèn sách. Tôi vốn là học sinh học đều các môn và đã hai lần được chọn đi thi học sinh giỏi môn Văn cấp thị xã. Chiều hôm ấy, 23/5/1971, tôi mời cả lớp 10B đến dự buổi liên hoan tiễn tôi lên đường. Do chưa biết kết quả bài thi ra sao, nên một số bạn tỏ ra lo lắng, số bạn ở ký túc không thấy đến. Thế rồi, như để phá tan cái không khí nặng nề đó, Bùi Thị Thanh, một cây văn nghệ của lớpđã đứng lên hát tặng tôi bài “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ, bài hát mà Thanh đã đạt nhiều giải cao trong các kỳ hội diễn văn nghệ của trường. Bài hát ấy đã trở thành hành trang đầy ý nghĩa theo tôi suốt đời quân ngũ. Mặcdùrất vui nhưng tôi không dám giữ các bạn ở lại lâu, vì ngày mai họ phải tiếp tục kỳ thi.Khi cả lớp đã ra về thì nhóm bạn ở ký túc mới lục tục kéo đến, trong đó có Vũ Thanh Cúc, quê mỏ thiếc Tĩnh Túc, một cô bạn khá xinh và học giỏi nhất lớp, khiến nhiều chàng trai trong lớp ngưỡng mộ và để ý, trong đó cócả tôi và Đinh Việt Trung, một cậu bạn thân từ nhỏ và cùng lớp. Tuy nhiên, tôi thì không dám thổ lộ,còn Trung thì mạnh bạo hơn. Thấy vậy, tôi cũng vun vào cho Trung, dẫu sao tôi cũng xắp lên đường. Hồi ấy và sau này không hiểu tình cảm của Cúc đối với hai đứa chúng tôi ra sao, chỉ biết rằng trong cuốn sổ lưu niệm của tôi, Cúc chỉ viết cho tôi những dòng tình cảm bè bạn, chúc tôi lên đường bình an trở về. Còn Trung, ba tháng sau cũng nhập ngũ. Thời gian đóng quân ở Hà Bắc, tôi có nhận được thư của Cúc hồi âm báo tin đã trúng đại học Dược, từ đó tôi chẳng biết tin gì về Cúc nữa. Tuần đầu nhập ngũ, chúng tôi đóng quân tại Nà Toàn, cách thị xã Cao Bằng 5 km, vì thế cứ chiều tối, nếu có cơ hội là chúng tôi lại “tút” về nhà. Một hôm, sau trận mưa lớn, khe suối cạnh nhà tôi cuốn phăng cái cầu tạm mà tôi hì hụi mấy ngày mới xong để mọi người qua lại. Để bảo vệ công trình lâu dài, tôi liền đến nhà Đinh Việt Trung xin một gốc mai về trồng ngay chỗ cây cầu bị sạt.Hơn bốn mươi năm qua, một phần mảnh đất nơi gia đình tôi sống đã đổi chủ, nhưng mỗi lần về thăm quê, tôi lại tần ngần đứng dưới bụi mai ấy, nó không chỉ là bức tường chắn lũ vững bền, mà còn cho những dậu măng trắng ngần để gia đình tôi đem bán ngoài chợ thời bao cấp. Với tôi, bụi mai ấy còn như một nhân chứng sống, chứng giám tình bạn thuở hàn vi giữa tôi vàTrung.Giở lại trang nhật ký hơn bốn mươi năm về trước, vào ngày 3/11/1971, tôi đã đạp xe sang Phú Bình gặp Trung, thuộc Tiểu đoàn 40, trước khi nó đi dã ngoại. Nào ngờ đó là lần cuối cùng gặp nó vì tám tháng sau Trung hy sinh.Bạn cùng phố Tam Trung ngày ấy nhập ngũ với tôi còn cóNguyễnHữu Vũ, Đàm Việt Hùng, Nguyễn Văn Hiệp, Vũ Văn Hồi và Chiến “Việt kiều Thái Lan”, tất cả học dưới tôi một lớp. Bên phố Cũ Vườn Cam, Thanh Sơn có Vương Hùng, Đặng Liên, Nguyễn Sơn, Chu Việt, Hoàng Thuật, Văn Công, Hoàng Kỳ… Đặc biệt, đại đôị 3 chúng tôi có khá nhiều anh lớn tuổi, đã có vợ con, đa phần là cán bộ, viên nhà nước cấp tỉnh, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên như: Nông Văn Khang, Đàm Văn Vượng, đoàn văn công tỉnh; y sĩ Phan Mạnh Cửu và Nông Chấn Ngân; thuyết minh chiếu bóng Hoàng Sơn, cán bộ nông nghiệp Long Xuyên, Hoàng Thế, Lục Dẻn, Nông Đại…Cùng tổ 3 người với tôi ngày đầu nhập ngũ có anh Kỳ thổi sáo rất hay (Kỳ hy sinh ngay trận đầu trên mảnh đất Kon Tum hè 1972).Chúng tôi được phiên chế về Đai đội 3, Tiểu đoàn 33, Sư đoàn 304B và trú quân tại xóm Đồng Sào, xã Quang Tiến, huyện Việt Yên, Hà Bắc, cách thị trấn Nhã Nam 5 km. Đây là vùng đất trung du gò đồi rất phù hợp cho công tác huấn luyện bộ đội. Ngày đầu tiên, qua trò chuyện với chị Bé chủ nhà, tôi được biết năm trước có Mạc Văn Báo, Hoàng Văn Thìn, bạn cùng phố đã đóng quân tại nhà chị, quả là điều trùng hợp bất ngờ.Một tuần sau tôi được chọn làm liên lạc cho Đại đội. Ban chỉ huy đại đội đóng tại nhà ông Trịnh Văn Toản, một ngôi nhà 3 gian truyền thống của vùng quê Bắc bộ, sau lưng nhà là sân kho hợp tác. Ông Toản có người con gái lớntên là Bắc đã lấy chồng trong làng, con thứ hai là Trịnh Xuân Lý tầm tuổi tôi và cậu út là Dân đang học lớp 7. Ông Toản cho biết, đợt trước, ban chỉ huy đại đội cũng đóng tại nhà ông, có anh liên lạc tên là Đỗ Văn Kỳ, cũng quê Cao Bằng. Lại một sự trùng hợp bất ngờ nữa, vì Kỳ là đồng hương quê cũ Thái Bình, lên Cao Bằng lập nghiệp đầu những năm sáu mươi như gia đình tôi. Sau này Kỳ trở thành một tiến sĩ, đại tá, Trưởng khoa của Học viện Quốc phòng tại Hà Nội ( Kỳ vừa đột tử mất tại Hà Nội).Cán bộ Đại đội 3 có đại trưởng Nhật, 27 tuổi cao lớn, ngăm đen và nghiêm nghị. Nghe nói chuyện tình duyên của anh hay trắc trở và sau đợt huấn luyện này anh sẽ lấy vợ. Chính trị viên trưởng Cõn thì thấp bé, mắt hiếng, đã có vợ con và gia cảnh khó khăn mà có lần tôi giành dụm được ít đường sữa cùng anh về thăm gia đình bên Việt Yên. Đại phó Nguyễn Quốc Trị thì thường xuyên vắng nhà vì công việc cơ động. Chính trị phó Kim quê Phổ Yên vui vẻ, hòa đồng khiến tôi rất qúy mến, mỗi khi có gì khúc mắc là tôi lại hỏi ý kiến anh ấy.Nhiệm vụ của anh liên lạc là chuyển thông tri xuống các trung đội, lập danh sách trích ngang từng chiến sĩ của đại đội, viết giấy báo công, bảng vàng danh dự, đọc 12 lời thề danh dự trước lễ chào cờ đầu tuần, tham gia biên tập, trang trí báo tường, giúp lãnh đạo tiếp khách, lấy thư, đọc báo cho đại đội nghe, thậm chí viết thư hộ cho một sốchiến sĩ người Mèo không biết chữ như Thào A Mùa, Vàng A Lừ… quê ở Hà Giang mới được bổ sung vào đại đội. Mặc dù công việc bận như con mọn, nhưng tôi vẫn phải thu xếp để tham gia các bài tập xạ kích, ném lựu đạn, bộc phá và các kỹ năng của người lính bộ binhtheo giáo trình huấn luyện chung. 6 tháng trời làm liên lạc trên đất Bắc và 3 tháng làm liên lạc trên đường hành quân vào chiến trường, tôi mới hiểu được thế nào là làm dâu trăm họ. Kẻ khen, người chê, thậm chí có người lâu không nhận thư nhà, nghi ngờ tôi dấu thư. Một lần tôi đi tắm ngoài suối, để đôi dép râu trên bờ, bỗng dưng mất một chiếc, phải đi chân đất vài ngày và nhờ gia đình mua cho đôi dép nhựa Trung Quốc gửi xuống. Sau đó mới biết rằng, một cán bộ trung đội vốn bất mãn với C bộ nên “giận cá chém thớt”, lấy dép của liên lạc cho bõ ghét. Thông cảm với công việc và lo cho tôi, anh Hịch, Trung đội trưởng B2 khuyên tôi nên xin về trung đội, tập trung huấn luyện để sau này vào chiến trường đỡ lúng túng. Tôi cũng đã ngỏ ý như vậy, nhưng C bộ không chấp thuận. Ngoài nhiệm vụ huấn luyện, chúng tôi thường xuyên tham gia lao động mang tính rèn luyện cao như: lên bãi Đá ong lấy củi, lên đập Batacun trên Thái Nguyên khai thác nứa, ra Nhã nam lấy gạo, ra đồng giúp bà con thu hoạch…Đầu tháng 9 năm 1971, trận lụt lịch sử đã phủ trắng bao miền quê trung du Bắc bộ, nhiều tuyến đê xung yếu bị vỡ, hàng vạn gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Nhìn đâu cũng thấy xác gia súc, nhà cửa trôi dạt trong biển nước mênh mông.Máy bay trực thăng phải bay cả tuần thả bánh mỳ cứu đói cho dân. Trong trận “đại hồng thủy” ấy, chúng tôi phải hành quân cấp tốc đêm ngày, hết ứng cứu cầu Việt Trì lại quay về Vĩnh Tường, Vĩnh Phú hộ đê. Ngay cả nơi đóng quân tại xóm Đồng Sào nước cũng trắng đồng, tràn ngập sân ngõ như thử sức những người lính trẻ. Kết thúc đợt chống lụt, nhiều tập thể, cá nhân, trong đó có tôi được tỉnh Vĩnh Phú tặng Bằng khen, một phần thưởng mà tôi và mọi người không ai mong đợi. Nhật ký của tôi còn ghi lại một sự kiện, ngày 25/6/1971, chúng tôi được lên Tiểu đoàn bộ nghe các dũng sĩ từ Mặt trận đường Chín, Quảng trị ra kể chuyện chiến đấu.Trong số đó có Trung úy Phùng Quang Thanh, 22 tuổi, đại đội trưởng, anh hùng LLVTND. Toàn tiểu đoàn ngồi thẳng hàng trên một sườn đồi, gần nhà của Nguyên Hồng, một nhà văn nổi tiếng, lặng im như nuốt từng lời kể của anh về trận đánh không cân sức trên đồi không tên. Rồi trận đánh cao điểm 456 có xe tăng 555 được mệnh danh là “mãnh hổ” yểm trợ. Chuyện anh cùng đồng đội bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ dù 3 của ngụy…Sau mỗi câu chuyện là từng tràng vỗ tay rền vang như súng nổ nơi chiến trường. Sau lần đó, toàn tiểu đoàn tổ chức học tập gương chiến đấu dũng cảm, sáng tạo của Lê Mã Lương và các dũng sĩ đường Chín anh hùng. Ngày đó, tôi đâu có ngờ hơn ba mươi năm sau, Trung úy Phùng Quang Thanh trở thành vị Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như bây giờ.Cũng tại Mặt trận đường Chín năm đó, nơi sản sinh ra những anh hùng, dũng sĩ như Lê Mã Lương, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Văn Hiệu, Bùi Ngọc Đủ, tôi có người anh vợ (sau này), đã hy sinh khu vực Làng Vây – Lao Bảo vào cái ngày tôi chưa nhập ngũ. Tận bây giờ vẫn chưa biết phần mộ của anh ở đâu. Năm ngoái tôi vào tận đường Lao Bảo, gặp nhiều người, xin được cả cuốn lịch sử và bản đồ trận đánh, đến nhiều nghĩa trang nhưng cũng chưa tìm thấy anh. Mới đây nghe tin ở xã Đại Hóa, huyện Tân Yên, Bắc Giang có địa chỉ “áp vong” liệt sĩ rất đông khách, tôi liền tìm đến xem thực hư ra sao. Chuyện tìm kiếm mộ liệt sĩ qua ngoại cảm, “áp vong” là nhu cầu có thực trong hàng ngàn gia đình thân nhân liệt sĩ. Kết quả đúng sai không dễ gì giải thích bằng khoa học, không chỉ đi một lần là được và là một câu chuyện rất dài.Điều khiến tôi không ngờ là địa chỉ “áp vong” ấy, lại kề bên xóm Đồng Sào, nơi chúng tôi đóng quân ngày xưa. Vì thế, mặc trưa hè nắng nóng, tôi đã tranh thủ tìm đường ghé thăm chốn cũ, điều mà tôi nhiều lần có ý định mà chưa thực hiện được.Con đường vào Đồng Sào xưa khó đi là thế mà nay trải bê tông thẳng tắp, nổi bật giữa màu xanh lúa đồng đang thì con gái. Tôi phải vòng vo hàng giờ mới tìm ra nơi C bộ đóng quân. Sân hợp tác nay thành nhà văn hóa thôn. Nhà ông Toản đã có chủ mới với tòa nhà hai tầng to vật vưỡng. Trước cảnh vật làng quê mới lạ, tôi bồi hồi nhớ lại bao gương mặt thân quen của đồng đội và bà con thôn xóm, trong đó có hình dáng của một cô thôn nữ . Ngày ấy, cứ mỗi chiều về, tôi một mình băng qua cánh đồng đầu xóm lên Tiểu đoàn bộ lấy thư báo về cho đơn vị. Khi đi qua con đập Đồng Đồi, tôi thường bị đám con gái xóm trên, sau buổi làm đồng về, rửa chân tay ven suối, té nước trêu chọc. Vì còn quá trẻ, lại một mình nên tôi chỉ biết lặng im cúi đầu mà chạy. Nhưng về tới đầu làng, qua một đám chân ruộng cao chuyên trồng màu, tôi thấy một cô gái khăn choàng kín đầu, chỉ để hở đôi mắt, đơn lẻ và lặng lẽ hì hụi vun xới từng luống khoai, gốc lạc. Lúc đầu tôi có ý tránh, nhưng cũng chả biết tránh đi đâu trên con đường độc đạo ấy, tôi đành lầm lũi bước thật nhanh, ra vẻ việc quân đang rất vội. Hôm sau, cũng giờ đó, người con gái ấy lại xuất hiện. Trước sự lúng túng của tôi, cô gái chủ động buông một câu hỏi đùa tế nhị “em có thư không anh bộ đội ơi”…Thế rồi, chúng tôi chào hỏi nhau, cô gái ấy tên là Thành, nhà kế bên Ban chỉ huy đại đội. Từ đó, cứ mỗi lần tôi đi lấy thư là đã thấy bóng cô ngoài thửa ruộng. Rồi tôi cũng phát hiện ra, sau chiếc khăn mùi xoa che kín mặt, là đôi mắt của cô như thầm nói với tôi điều gì đó. Nhưng với tôi, đó vẫn chỉ là thứ tình cảm mà người lính chúng tôi đã được giáo huấn kỹ càng trong bài công tác dân vận. Sau 41 năm trở lại thăm Đồng Sào, tôi được tin cô ấy đã mất do một căn bệnh hiểm nghèo.Qua mấy tháng rèn luyện, một số đứa cùng nhập ngũ như Hồi, Chiến, Hùng, Công…được tuyển chọn đi đào tạo làm cán bộ khung huấn luyện. Còn tôi cũng được lãnh đạo gợi ý cho đi huấn luyện làm y tá hoặc hậu cần gì đó nhưng tôi từ chối, bởi cho rằng trước sau đều phải vào chiến trường cả thôi, làm anh cán bộ khung cũng chẳng sướng gì. Đã đi bộ đội là phải ra chiến trận, phải “chết xanh cỏ, sống đỏ ngực”, phải “sống sao cho phải xót xa ân hận vì những năm tháng sống hoài sống phí” như Pa – Ven – Cooc – Xa – Ghin đã viết. Chả thế mà Vũ Hồi viết đơn xin ở lại đi chiến đấu và ký tên bằng máu hẳn hoi nhưng không được trên chấp thuận. Sáu tháng huấn luyện là khoảng thời gian tôi nóng lòng chờ đợi bằng tốt nghiệp loại đặc cách lớp 10 như quy định hồi đó và giấy giới thiệu cảm tình Đoàn của Đoàn trường cấp III thị xã Cao Bằng. Sốt rột quá, có lần tôi và Nông Văn Ơn, cũng là liên lạc viên Đại đội 4 gần đó, bàn tính rủ nhau xin về quê mấy ngày để hỏi cho ra nhẽ.Nhưng rồi lại nghĩ, cái quan trọng hơn là sau này còn sống trở về .Thế rồi thời gian huấn luyện đã kết thúc, trước khi vào chiến trường, chúng tôi được về phép 15 ngày. Trong những ngày cuối cùng của đợt phép khó quên ấy, trái tim tôi bỗng rộn ràng xao xuyến lạ thường, mỗi khi gặp mặt hoặc sang chơi nhà cô bạn hàng xóm, chỉ cách nhà tôi một khe suối cạn. Cô ấy học dưới tôi hai lớp và là em gái thằng bạn thân nhất của tôi. Trước đêm chia tay trả phép, tôi đã giành khoảng thời gian còn lại, để trò chuyện cùng cô ấy, bên bếp than cháy hồng giữa mùa đông giá rét. Rồi như bao đôi trai gái khác của thời loạn lạc, chúng tôi trao kỷ vật cho nhau trong sự thẹn thùng, e ấp và trắng trong.Đêm đầu tiên của Trường Sơn ngàn dặm, trên cánh võng mềm như vầng trăng đầu tháng, tôi đãviết lá thư tình đầu tiên, của đời trai trẻ gửi về cho em. Và cũng từ đó, tôi thường viết thư về cho cô ấy để nói rõ lòng mình. Tôi đã yêu, đó là thứ tình yêu của người ra trận. Nhớ em, có lần tôi gào gọi tên em trong cơn sốt ác tính. Không ít lần tôi phải tưởng tượng ra tình yêu của mình khi đồng đội tò mò căn vặn. Dù không một lần nhận được thư của cô ấy, nhưng tôi lại tự an ủi chắc thư từ thất lạc. Rồi một hôm, vào giũa năm 1973, tôi nhận được tin em đã đi lấy chồng. Một nỗi buồn thực sự đã xâm chiếm trái tim đang tuổi hai mươi của tôi giữa chiến trường khói lửa. Nhưng rồi nỗi buồn ấy cũng qua mau, bởi tôi đã ý thức được sự mong manh của thứ tình yêu đầu đời đó. Trong trang cuối cuốn nhật ký gửi lại gia đình giữ hộ, tôi đã dự cảm viết rằng “ Ta biết rằng tình yêu này gần như giấc mộng, nó sẽ tan vỡ trong khói lửa chiến tranh. Xin vĩnh biệt”. Tôi không có quyền trách cô ấy, bởi chiến tranh không phải trò đùa, nhất là cho số phận của những người con gái mà bản thân họ chưa nợ mình một lời thề chung thủy. Sau này gặp lại, tôi không nhắc lại chuyện xưa và coi đó là một kỷ niệm của riêng mình. Bởi ít ra thì trong trái tim tôi những ngày chinh chiến ấy, cũng có một “bóng hồng” để tôn thờ, hy vọng và tự hào với bạn bè đồng đội, hơn khối anh chưa biết thế nào là yêu. Bất giác tôi nghĩ, giá như ngày xưa ấy, mọi cô gái đều “giả vờ yêu” một người lính trẻ để họ thêm ấm lòng. Nếu có ngã xuống thì họ cũng có được phút giấy cuối cùng để nghĩ về người con gái đáng yêu của họ.



