Một thời hoa lửa và lời nhắn gửi hôm nay
Có những câu chuyện được kể để nhớ về một trận đánh. Có những câu chuyện được kể để nhắc tên một người. Nhưng câu chuyện về cựu chiến binh Nguyễn Công Nhi dường như còn có một ý nghĩa rộng hơn: nhắc thế hệ hôm nay nhớ rằng phía sau cuộc sống hòa bình là một thế hệ đã từng đi qua lửa đạn bằng chính tuổi trẻ của mình.
Nguyễn Công Nhi sinh năm 1950, quê ở xóm Đồng Giai, xã Giai Lạc, tỉnh Nghệ An. Năm 1969, khi vừa tròn 19 tuổi, ông lên đường nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện tân binh, ông được điều về Tiểu đoàn 31, F305 Đặc công, thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công. Từ một chàng trai quê, ông bước vào những năm tháng quân ngũ với hành trang giản dị: ba lô, khẩu súng và niềm tin vào con đường mình đã chọn.
Năm 1972, ông cùng đơn vị chiến đấu trên chiến trường Trị - Thiên, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Ông tham gia nhiều trận đánh, trong đó có trận đánh vào kho xăng khu vực sân bay Phú Bài, những trận đánh ở Cam Lộ, nhà máy nước, Chi khu Cam Lộ, Bến Ngự và Phú Bài.
Có những trận đánh ông nhớ bằng tiếng nổ.
Có những trận đánh ông nhớ bằng những người đồng đội.
Và có những trận đánh mà khi nhắc lại, nước mắt vẫn rơi.
Trong cuộc đời người lính, ông đã chứng kiến nhiều mất mát. Nguyễn Văn Trọng bị thương. Trần Duy Hợp bị địch bắt và bị đày ra đảo Phú Quốc. Trong một trận đánh ở khu vực Huế - Phú Bài, hơn một nửa đồng đội trong đội hình chiến đấu của ông đã hy sinh.
Những con người ấy đã không thể trở về.
Họ không kịp có một mái nhà riêng.
Không kịp có những đứa con.
Không kịp nhìn thấy ngày đất nước thống nhất.
Nhưng sự hy sinh của họ đã trở thành một phần của con đường dẫn đến hòa bình.
Năm 1977, sau tám năm trong quân ngũ, Nguyễn Công Nhi phục viên trở về quê. Ông tham gia lực lượng dân quân tự vệ, lập gia đình, lấy vợ, sinh con và sống cuộc đời điền viên. Cuộc sống cứ thế trôi đi. Những mùa lúa nối nhau. Những đứa trẻ lớn lên. Mái tóc người lính bạc dần.
Nhưng mỗi khi đất nước có ngày lễ lớn, ông lại nhớ về phía Nam, nơi một phần tuổi trẻ của mình đã gửi lại.
Ông nhớ đồng đội.
Nhớ những trận đánh.
Nhớ những gương mặt.
Và có lẽ, hơn tất cả, ông nhớ một thời mà những người trẻ tuổi rời quê hương, khoác ba lô lên đường và chấp nhận đặt tương lai của mình vào những năm tháng chiến tranh.
Hôm nay, chúng ta được sống trong hòa bình.
Những con đường đã rộng hơn.
Những ngôi trường đã đông hơn.
Những mùa hè không còn tiếng bom.
Nhưng phía sau bình yên ấy là một thế hệ đã từng đi qua lửa đạn.
Trong mỗi ngày bình yên hôm nay có bóng dáng của những người lính năm xưa.
Nguyễn Công Nhi là một trong những người đã trở về từ một thời như thế. Ông trở về để sống một cuộc đời bình dị, nhưng một phần tuổi trẻ vẫn còn ở lại nơi chiến trường.
Ở đó có đồng đội.
Có những trận đánh.
Có những cái tên.
Và có một thời hoa đỏ.
Có lẽ điều ông muốn nhắc đến không phải là bản thân mình đã tham gia bao nhiêu trận đánh hay đã nhận được những phần thưởng nào. Chính tư liệu cũng lưu ý rằng các loại huân chương, huy chương cụ thể cần được đối chiếu với hồ sơ khen thưởng trước khi sử dụng chính thức. Điều ông nhắc đến nhiều hơn là những người đã nằm lại.
Bởi những người đã hy sinh không thể tự kể câu chuyện của mình nữa.
Những người còn sống kể lại để ký ức không bị lãng quên.
Và thế hệ hôm nay lắng nghe để hiểu hơn giá trị của hòa bình.
Một thời hoa đỏ là một thời tuổi trẻ đẹp đến nhói lòng. Những chàng trai, cô gái rời mái nhà, rời quê hương, mang theo tuổi hai mươi và những ước mơ còn dang dở để bước vào chiến trường.
Họ đã gửi lại những năm tháng đẹp nhất của đời mình.
Còn hôm nay, chúng ta được sống trong những năm tháng bình yên mà họ từng mong muốn.
Vì vậy, câu chuyện của Nguyễn Công Nhi không chỉ là câu chuyện của một người lính. Đó là câu chuyện của một thế hệ.
Một thế hệ đã đi vào năm tháng bằng tuổi hai mươi.
Một thế hệ đã có người trở về, có người nằm lại.
Và một thế hệ mà dù thời gian đã đi qua hơn nửa thế kỷ, những ký ức về họ vẫn cần được kể lại, để những người hôm nay hiểu rằng bình yên chưa bao giờ là điều tự nhiên mà có.



