MỘT THỜI MÁU LỬA – MỘT ĐỜI KHÔNG QUÊN.
MỘT THỜI MÁU LỬA – MỘT ĐỜI KHÔNG QUÊN.
Vị Xuyên – Những năm tháng anh hùng.
Trên dải đất hình chữ “S” này, nhìn đâu cũng thấy máu và hoa, nhìn đâu cũng chạm vào những vết thương chưa lành trên da thịt Tổ quốc. Lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước chưa bao giờ tách rời những câu chuyện bi tráng, thời mà sinh mạng con người sẵn sàng dâng hiến cho hai chữ “Độc lập”. Có những trang sử được viết bằng mực giấy, nhưng có những trang sử được tạc vào non sông bằng xương máu và thanh xuân của cả một thế hệ anh hùng. Nếu bạn muốn hiểu tận cùng thế nào là “Lò vôi thế kỷ”, muốn nghe khúc ca bi tráng nhưng đầy khốc liệt của biên giới phía Bắc, hãy cùng đến với mặt trận Vị Xuyên
Chúng ta đều đã nghe đến sự mất mát to lớn trong chiến dịch Điện Biên phủ năm 1945, bạn cũng từng nghe đến “Cối xay thịt” ở Quảng Trị, nhưng Vị Xuyên – Hà Giang thì có lẽ sẽ ít người biết đến hơn. Đây là nơi mà hàng ngàn con người đã ngã xuống, không một tấm bia, không một dòng tên, không một lời nhắc. họ nằm giữa núi đá Tai mèo, nằm giữa âm thầm và lặng lẽ.
Khi tiếng súng đã ngừng từ rất lâu, nhưng ký ức về nó vẫn không thực sự khép lại. Với lịch sử Việt Nam sau năm 1975, Chiến tranh biên giới phía Bắc là một giai đoạn như thế.
Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chiến sự quy mô lớn bùng nổ trên tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam. Từ Lào Cai, Cao Bằng đến Lạng Sơn, nhiều vùng biên giới trở thành chiến trường. Quân đội và nhân dân Việt Nam phải đối mặt với một cuộc tiến công lớn trong khi đất nước vừa trải qua những năm tháng chiến tranh kéo dài. Đến tháng 3 năm 1979, lực lượng Trung Quốc rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nhưng nếu nghĩ rằng đến đó cuộc chiến đã hoàn toàn kết thúc thì có lẽ chúng ta đã bỏ lại phía sau một phần quan trọng của lịch sử.
Sau năm 1979, biên giới phía Bắc vẫn tiếp tục căng thẳng. Những cuộc giao tranh diễn ra trong nhiều năm tiếp theo, đặc biệt dữ dội tại khu vực Vị Xuyên, Hà Giang. Từ năm 1984, những dãy núi đá nơi đây trở thành một trong những chiến trường khốc liệt nhất. Các điểm cao như 1509, 772, 685, 1100, 233, 1030… lần lượt xuất hiện trong những trang nhật ký chiến trường, trong hồi ức của người lính và trong câu chuyện của những gia đình có người thân đã nằm lại nơi biên giới.
Ở vùng núi ấy, chiến tranh mang một hình hài rất khác. Không phải những đoàn quân tiến vào một thành phố lớn, cũng không phải những trận đánh diễn ra trong vài ngày rồi kết thúc. Có khi mục tiêu chỉ là một mỏm đá, một sườn núi hay một điểm cao trên bản đồ. Nhưng để giữ được một điểm cao ấy, những người lính phải bám trụ giữa núi đá, dưới những trận pháo kích dồn dập, trong điều kiện thiếu thốn và nguy hiểm. Một cao điểm được giữ có thể quyết định khả năng quan sát và phòng thủ của cả một khu vực. 1509, 772, 685… – những con số nghe qua tưởng như vô tri, nhưng mỗi con số lại chứa đựng một phần đời của những người lính đã chiến đấu ở đó.
Đặc biệt, ngày 12 tháng 7 năm 1984 đã trở thành một trong những ngày khốc liệt nhất của mặt trận Vị Xuyên. Các đơn vị Việt Nam tổ chức tiến công nhằm giành lại một số vị trí chiến lược. Trận đánh diễn ra trong điều kiện vô cùng ác liệt và nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh. Những năm sau đó, chiến sự vẫn tiếp tục ở Vị Xuyên. 10 năm chiến đấu trên mảnh đất Vị Xuyên hơn 4000 bộ đội của ta đã hy sinh, hàng ngàn người bị thương, hơn 2000 liệt sĩ chưa tìm được hài cốt. Hiện nay, nghĩa trang Vị Xuyên hiện có 1797 ngôi mộ liệt sĩ và 1 mộ liệt sĩ tập thể cùng 330 mộ liệt sĩ chưa xác định thông tin. Chính vì vậy, ngày 12/7 hằng năm được coi là ngày giỗ trận chung cho những anh hùng đã nằm lại núi đồi Vị Xuyên – ngày mở đầu cho chiến dịch mang mật danh MB-84 phản kích để lấy lại những điểm cao mà Trung Quốc đánh chiếm.
Nhưng lịch sử chiến tranh không chỉ được tạo nên bởi những chiến dịch, những bản đồ hay những con số thương vong. Lịch sử được tạo nên bởi những con người. Đó là những người lính trẻ rời quê hương với ba lô trên vai. Có người chưa kịp cưới vợ, có người chưa kịp trở về nhìn thấy đứa con đầu lòng. Có người trở về sau chiến tranh, nhưng một phần tuổi trẻ của họ mãi mãi ở lại giữa những dãy núi đá Vị Xuyên. Và cũng có những người đã không trở về.
Đọc những dòng nhật ký dưới đây, chắc chắn ai trong chúng ta cũng sẽ phải dừng lại và suy nghĩ về những năm tháng khốc liệt của mặt trận này. Em xin phép được trích một đoạn nhật kí sau:
Sở Chỉ huy Sư đoàn 314, điểm cao 920, Minh Tân, Hà Giang, 4 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 9 năm 1985.
Hai loạt pháo nỗ liên tiếp, báo hiệu một ngày chiến đầu ác liệt. Tiềng rít căng và tiếng nổ của đạn pháo xé rách không gian của buổi sáng yên tĩnh. Các đợt pháo dồn đập, cấp tập trên nóc hẩm của Sở Chỉ huy, tôi và Ban Tham mưu sư đoàn ngồi bó gối trong hầm 5 tiếng đồng hồ, mất liên lạc từ loạt đạn đầu, pháo nổ kiểm chế trên nóc hẩm nên không ai ra được khỏi hẩm. Cả Ban Tham mưu không phán đoán nổi sự việc gì đang xảy ra trên điểm tựa và các chốt phòng ngự, mà chỉ nhận định có khả năng địch đánh lớn. Chiếc hầm chỉ huy của chúng tôi có những lúc đung đưa, tưởng chừng không chịu đựng được sức công phá của đạn pháo địch trút xuống, mặc dù đây là một căn hầm kiên cố nhất, là trung tâm chỉ huy chiến đấu. Tôi thầm nghĩ số mệnh mình chắc đã đến lúc phải nộp cho thần chết... Sau 5 tiếng đồng hổ, chúng tôi nhận được tin từ trên các điểm tựa bảo cáo về: địch đã đánh chiếm mất điểm tựa phòng ngự của b1 (Pa Hán), thuộc Đại đội 5, Tiểu đoàn bộ binh 5. Thì ra thủ đoạn của địch là bắn hỏa lực pháo binh vào Sở Chỉ huy, kiềm chế hỏa lực pháo binh của ta, sử dụng lực lượng bộ binh biển người lên cướp chốt. Đây là chốt quan trọng nhất trên tiền tuyến phòng ngự của sư đoàn. Ban Tham mưu bất ngờ trước ẩm mưu này của địch. Tin đau thương đến với Sở Chỉ huy sư đoàn, 37 chiến sĩ thương vong trong đó 14 đã anh dũng hy sinh và không trở về, 22 bị thương, 1 mất tích.
...
Ngày 25 tháng 9 năm 1985
Sau một ngày duy trì chỉ huy pháo bắn vào A rừng xanh, tôi mệt rã rời, người mất thăng bằng, không ăn được, cả Sở Chỉ huy ai cũng lo cho tôi, thực chất trong tác chiến trên biên giới lúc này pháo binh đánh nhiều nhất, linh hồn của trận đánh là tiếng nổ của pháo binh. Khi có tiếng pháo của ta bắn, thì ngay cả trong Sở Chỉ huy chứ không nói gì bộ đội trên điểm chốt, đều yên tâm và hình như có gì an ủi họ, nhất là khi họ đang nằm trong tầm bắn của pháo binh địch. Sau một ngày bắn theo kế hoạch vào A rừng xanh, Sư trưởng lại giao nhiệm vụ cho bắn thử vào A rừng xanh bằng tất cả các loại pháo. Sau đó, đúng 19 giờ cho tập kích hỏa lực vào A rừng xanh, mục tiêu rộng 200m, dài 300m, mỗi tiểu đoàn pháo bắn 200 viên. Sau khi làm công tác tổ chức chỉ huy bắn thử xong, tôi hồi hộp chờ đến 19 giờ thì hạ lệnh cho các loại pháo bắn, đồng thời theo dõi kết quả bắn của pháo binh ta và phản pháo của pháo binh địch. Sau nổ súng, các đài quan sát báo cáo về pháo bắn rất chính xác các mục tiêu, tôi rất phấn khởi và vội báo cáo ngay kết quả với Sư trưởng, ông hài lòng. Lại một đêm nữa thức chỉ huy chiến đấu cùng ông. Nhờ pháo bắn chính xác vào mục tiêu, bộ binh địch không trụ được trong công sự, đồng thời bị bộ binh ta vây ép, lấn dũi, phía địch số thương vong, số thì bỏ chạy về bên kia biên giới. Sau đợt bắn dồn dập cuối cùng, đúng 5 giờ 30 phút sáng, ngày 26 tháng 9, ta đã làm chủ toàn bộ khu vực A rừng xanh, ta hy sinh 6, bị thương 5. Sư trưởng nghe báo cáo xong, lệnh cho các đơn vị khẩn trương giải quyết thương vong, củng cố lại trận địa, tổ chức phòng ngự chặt chẽ, nắm chắc phản ứng của địch, sẵn sàng chiến đấu. Với thế trận pháo binh đã hạn chế tối thiểu thương vong và khống chế được quân địch, các chiến sĩ tại chốt như tiếp thêm được tinh thần chiến đấu. Cả Sở Chỉ huy sư đoàn ai cùng vui mừng vì pháo binh bắn rất trúng, trong lòng tôi vô cùng phấn chấn. Vậy là đã 2 ngày và 3 đêm không chớp mắt... nhưng cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. (THÀNH, N. X. (2019). MẶT TRẬN VỊ XUYÊN NHỮNG NGÀY THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN. Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, (2 (246)), 43-49.)
Những dòng nhật ký của ông Nghiêm Xuân Thành đã đưa ta trở lại với Vị xuyên những năm đầu của trận chiến này. Mặt trận Vị Xuyên là chiến trường ác liệt chống quân xâm lược, diễn ra trong suốt 10 năm (1979-1989), đặc biệt trong giai đoạn từ 1984-1989. Như vậy mới thấy, ông cha ta gìn giữ và bảo vệ từng tấc đất biên giới. Đúng như lời thề khắc trên báng súng của anh hùng liệt sĩ, Trung úy, Trung đội trưởng Nguyễn Viết Ninh, thuộc Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356: “Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử” đã trở thành lời thề chung của các chiến sĩ mặt trận Vị Xuyên anh hùng.
Với tất cả chúng ta, khi đã và đang sống trong thời đại hòa bình, thì việc học và hiểu Lịch sử là một điều vông cùng quan trọng. Và cách tốt nhất để tìm hiểu về Lịch sử, để cảm nhận rõ về sự khốc liệt của những năm tháng ấy đó là chúng ta có thể bắt đầu từ một người lính cụ thể, một lá thư chưa kịp gửi, một trang nhật ký còn dang dở, một lời hứa với mẹ trước ngày lên đường, hay một câu chuyện mà nhiều năm sau, người còn sống vẫn không thể quên. Và trong số những câu chuyện được lưu giữ từ mặt trận Vị Xuyên, có những câu chuyện khiến chúng ta nhận ra rằng phía sau mỗi trận đánh là một cuộc đời, phía sau mỗi cái tên trên bia tưởng niệm là một gia đình, và phía sau mỗi sự hy sinh là một câu chuyện chưa chắc đã được kể hết.
Và em đã vô cùng may mắn khi được gặp và trò chuyện với một trong những người cựu chiến binh của Mặt trận Vị Xuyên năm xưa. Đó là ông Trương Văn Đau- một người ông trong gia đình của tôi, ông lên đường hiện tại ông đang sinh sống tại xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang. Là một người con của quê hương Vị Xuyên, và khi ấy, ông vẫn lựa chọn chiến đấu vì mảnh đất địa đầu Tổ quốc này.
Trước khi lên đường ra chiến trường, ông cũng như bao người lính trẻ khác, mang trong mình sức trẻ và nhiệt huyết của một người lính. Khi ấy, có lẽ ông không thể hình dung được rằng những tháng ngày phía trước sẽ trở thành một phần ký ức không thể nào quên trong cuộc đời mình.
Ông đi bộ đội từ năm 1978. Đến năm 1979, ông tham gia trận đánh nhổ chốt ở đồi 800A, Thanh Thủy. Nhắc lại những ngày tháng ấy, ông kể: “Năm 1978 tôi đi bộ đội, đến năm 1979 thì tham gia nhổ chốt ở đồi 800A Thanh Thủy. Khi đi từ dưới hầm lên, tôi không may bị trúng bom và mất một bên chân.”
Đó là khoảnh khắc làm thay đổi cuộc đời người lính trẻ. Giữa sự khốc liệt của chiến trường, ông may mắn được một người đồng đội ở Vũ Điếm cùng các đồng đội khác cứu và đưa trở về. Nhắc đến những người đã cứu mình, ông vẫn nhớ: “May mắn lúc đó có đồng đội ở Vũ Điếm và các đồng đội khác cứu ông trở về.” Có lẽ, sau từng ấy năm, điều còn ở lại sâu đậm trong ông không chỉ là ký ức về trận chiến, mà còn là tình đồng đội – những con người đã không bỏ lại nhau giữa thời khắc sinh tử.
Nhưng điều đặc biệt là khi hôm nay, kể lại câu chuyện của mình, ông không hiện lên như một con người chỉ sống với những mất mát của quá khứ. Ông Đau vẫn là một người vui tính, nhiệt tình và gần gũi. Sau khi trở về với cuộc sống đời thường, ông gắn bó với những công việc giản dị của gia đình. Ông chăm lợn, chăm gà, tự tay làm những công việc quen thuộc mỗi ngày. Cuộc sống của ông không ồn ào, nhưng lại có những niềm vui rất bình dị.
Đặc biệt, mỗi buổi chiều, khi những trận bóng chuyền của tổ dân phố bắt đầu, ông lại có mặt. Với vai trò trọng tài, ông theo dõi từng đường bóng, bắt lỗi, điều hành trận đấu và không quên pha trò cùng mọi người. Sự nhiệt tình và vui tính của ông khiến người ta dễ dàng cảm nhận rằng, sau những năm tháng chiến tranh, ông vẫn đang tận hưởng từng niềm vui giản dị của cuộc sống hiện tại.
Có lẽ, chính những khoảnh khắc đời thường ấy đã khiến chúng em cảm nhận rõ hơn về ông. Ông không chỉ là một cựu chiến binh từng chiến đấu ở Vị Xuyên, mà còn là một người yêu lao động, gần gũi với mọi người và luôn mang đến tiếng cười cho những người xung quanh.
Thế nhưng, càng nghe ông kể, chúng em càng nhận ra rằng phía sau sự vui tính và những câu chuyện đời thường ấy là một quá khứ mà thế hệ chúng tôi chỉ có thể hình dung qua sách vở, những bức ảnh cũ hay những thước phim tư liệu. Có một điều khiến em đặc biệt tò mò. Từ nhỏ, chúng em đã nhiều lần nhìn thấy hình ảnh chiến tranh qua những bộ phim tư liệu. Trong đó, bầu trời thường bị phủ kín bởi khói đạn, những khoảng trời tối sẫm giữa tiếng bom pháo. Dù đã nghe ông kể về sự khốc liệt của chiến trường, tôi vẫn không khỏi thắc mắc: Liệu bầu trời thời chiến có thật sự tối đen như những gì chúng tôi vẫn thường nhìn thấy trên những thước phim ấy hay không?
Em đem câu hỏi ấy hỏi ông. Ông im lặng một chút rồi trả lời, bằng một giọng rất bình thản: “Đúng vậy, nó tối đen giống y như vậy luôn”. Một câu trả lời ngắn đến bất ngờ. Nhưng chính sự ngắn gọn ấy lại khiến chúng em lặng đi. Bởi với chúng em, bầu trời tối đen chỉ là một hình ảnh trên màn ảnh. Còn với ông, đó từng là bầu trời thật – là bầu trời ông đã nhìn thấy bằng chính đôi mắt mình giữa những năm tháng chiến tranh.
Có lẽ, chúng em sẽ không bao giờ có thể thực sự hiểu được bầu trời ấy đã tối đến mức nào. Nhưng từ câu nói giản dị của ông, một hình ảnh về chiến tranh bỗng trở nên gần hơn bao giờ hết. Và từ “bầu trời tối đen” ấy, câu chuyện về những năm tháng Vị Xuyên của ông Trương Văn Đau bắt đầu được mở ra.
Khép lại câu chuyện của ông Trương Văn Đau, trong chúng em còn đọng lại rất nhiều cảm xúc. Đó không chỉ là sự xúc động trước những mất mát mà ông và những người lính năm ấy đã trải qua, mà còn là lòng biết ơn sâu sắc đối với một thế hệ đã dành những năm tháng tuổi trẻ của mình để bảo vệ từng tấc đất nơi biên cương Tổ quốc. Qua lời kể của ông, chúng em hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách, mà còn hiện diện trong cuộc đời của những con người đang sống ngay bên cạnh mình.
Chúng em biết rằng những gì mình được nghe kể hôm nay chỉ là một phần rất nhỏ trong những năm tháng mà ông đã trải qua. Có những người đã trở về như ông, nhưng cũng có những người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Vì thế, được lắng nghe câu chuyện của một người lính từng đi qua chiến tranh không chỉ là một trải nghiệm đáng nhớ, mà còn là cơ hội để chúng em hiểu hơn về giá trị của hòa bình và cuộc sống mà mình đang có.
Là những học sinh của thế hệ hôm nay, chúng em không thể quay trở lại chiến trường để làm những điều mà thế hệ cha ông đã làm. Nhưng chúng em có thể lựa chọn cách sống xứng đáng với những gì mình được nhận. Chúng em hứa sẽ trân trọng lịch sử, biết ơn những người đã hy sinh và cống hiến cho Tổ quốc, không ngừng học tập, rèn luyện và sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước.
Mai này, khi rời mái trường, mỗi người trong chúng em có thể sẽ đi về những con đường khác nhau. Nhưng câu chuyện về ông Trương Văn Đau, những dòng nhật kí của ông Nghiêm Xuân Thành và những người lính Vị Xuyên sẽ vẫn là một phần ký ức mà chúng em mang theo. Bởi có những câu chuyện không chỉ để nhớ về quá khứ, mà còn để nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết giữ gìn hòa bình, trân trọng hiện tại và viết tiếp tương lai bằng chính những điều tốt đẹp mình có thể làm. Đó cũng là cách chân thành nhất để chúng em nói lời cảm ơn và tri ân đến những người lính đã dành tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc. Những năm tháng ấy đã đi qua, nhưng sự hy sinh và những câu chuyện của họ sẽ còn được chúng em gìn giữ, kể lại và truyền tiếp cho những thế hệ mai sau.



