Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2) (1)

Tôi rất vui mừng và xúc động được cầm trên tay bản thảo cuốn sách tập hợp những ký ức của những đồng chí đã từng trực tiếp làm công tác đảng, công tác chính trị tại chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên trong suốt cuộc kháng chiến chông Mỹ, cứu nước cho đên ngày toàn thắng. Với tâm huyết của người trong cuộc, các đồng chí đã ghi chép lại những kỷ niệm sâu sắc nhất của bản thân, của đồng chí đồng đội trong những ngày tháng đáng nhớ nhất. Cuốn sách viết về những sự thật lị

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
TRỞ VỀ NAM QUYẾT TÂM DIỆT THÙ
GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG

LÊ VĂN TƯỞNG
Nhận lệnh về Nam

Học văn hóa được nửa năm, vừa học xong lớp 6/10, tôi và một số anh trong lớp học được Tổng cục Chính trị triệu tập dự hội nghị nghe phổ biến tình hình sau khi có Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong hội nghị này còn có các anh Đào Sơn Tây, Trần Hải Phụng, Nguyễn Hoài Pho, Đỗ Vọng...

Anh Ba Lê Duẩn phổ biến tình hình thời sự trong và ngoài nước, tình hình cách mạng miền Nam và sau đó phổ biến Nghị quyết 15: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân" và "theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân".

Tiếp theo Nghị quyết 15, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam (chỉ thị ngày 31/l/1961).

“Ra sức xây dựng mau chóng lực lượng của ta về cả hai mặt chính trị và quân sự, tập hợp đông đảo lực lượng cách mạng trong Mặt trận Dân tộc giải phóng, phát động một phong trào đấu tranh chính trị mạnh mẽ của quần chúng, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát triển lực lượng của ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên một phạm vi ngày càng rộng lớn tiến lên làm chủ rừng núi, giành lại toàn bộ đồng bằng; ra sức xây dựng cơ sở và đẩy mạnh đấu tranh ở đô thị; tạo điều kiện và nắm mọi thời cơ chuẩn bị đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm, giải phóng miền Nam".

Tôi còn nghe anh Ba Duẩn nói:... "Đánh sao cho Mỹ đừng vào, nếu Mỹ vào nó có sức ỳ như tảng đá. Muốn bật được tảng đá ấy phải có cách xeo đúng chỗ yếu của nó giống như nông dân Đồng Tháp Mười xeo gốc tràm lụt vậy" Đại tướng Võ Nguyên Giáp vạch trần âm mưu phản bội Hiệp định Giơnevơ, phân tích ý đồ chiến lược của Mỹ - ngụy tại miền Nam Việt Nam.

Anh Hoàng Văn Thái cũng đến dự và nói về "Biện chứng pháp quân sự" để trang bị thêm lý luận cho anh em.

Được nghe phổ biến tình hình chung và Nghị quyết 15, anh em rất phấn khởi.

Vài ngày sau, chúng tôi được Tổng cục Chính trị triệu tập Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chính thức phổ biến lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cho một số đồng chí về lại miền Nam chiến đấu (năm 1961, Trung tướng Song Hào thay Đại tướng Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).

Tôi có nêu nguyện vọng xin trở lại tỉnh Tân An là chiến trường quen thuộc của tôi thời chống Pháp. Nhưng Trung tướng Song Hào nói: Quân ủy Trung ương dự kiến phân công anh về Nam làm công tác chính trị, tham gia công tác quản lý cán bộ về B2 chiến đấu và góp phần tổ chức các cán bộ khung cấp trung đoàn sắp tới nên anh không thể xin về Tân An được.

Mấy bữa sau, chúng tôi đến bộ phận tổ chức của Tổng cục Chính trị để gửi lại Huân, Huy chương và làm thủ tục cần thiết.

Đồng chí thiếu tá Ích hỏi tôi:

- Được phân công về Nam chiến đấu, anh có ý nghĩ gì không? Bệnh đau khớp của anh đỡ chưa?

Nghe anh Ích hỏi, tôi không hài lòng, nên nói với anh:

- Anh đã biết tôi là người miền Nam, nay được lệnh về Nam chiến đấu mà lại hỏi như vậy, tôi không trả lời. Nếu anh hỏi, ngày mai có lên đường về Nam được không, thì tôi trả lời anh.

Nhân đó, tôi cũng nói với anh: "Anh đừng nói tôi đau khớp nhé. Tôi đã hết đau rồi?" (thực tế lúc ấy, tôi vẫn thường xuyên mang băng bằng thun hai đầu gối).

Đoàn Phương Đông vượt Trưởng Sơn vào Nam

Trước ngày lên đường, đoàn họp tại Câu lạc bộ sĩ quan Bộ Tổng tham mưu. Anh Trần Văn Quang nêu ý kiến nên chọn cho đoàn một mật danh.

Cán bộ trong đoàn đề xuất mật danh của đoàn là Đoàn Phương Đông nhằm ghi dấu sự kiện Liên Xô vừa phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông 1 đưa phi công vũ trụ Gagarin lần đầu tiên bay vào khoảng không vũ trụ (12/4/1961).

Trước Đoàn Phương Đông đã có các đoàn cán bộ hồi hết vào Nam nhưng là đoàn ít người như đoàn anh Tăng Thiện Kim, đoàn anh Ba Trần, đoàn anh Phong Ba...

Đặc biệt Đoàn Phương Đông có số lượng đông nhất, gần 600 người, đánh dấu bước ngoặt quan trọng. Quân ủy Trung ương chấp hành Nghị quyết 15, tổ chức cán bộ hồi kết quy mô lớn để phối hợp với cán bộ bám trụ miền Nam xây dựng cơ quan quân sự miền Nam và các quân khu, tổ chức các trung đoàn chủ lực đầu tiên đáp ứng tình hình cách mạng miền Nam theo nhận định của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

« Sửa lần cuối: 27 Tháng Tư, 2016, 08:14:29 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:05:38 pm »

Bộ chỉ huy Đoàn Phương Đông gồm: - Thiếu tướng Trần Văn Quang - Trưởng đoàn.

- Đại tá Trần Đình Xu - Tham mưu trưởng.

- Thượng tá Lê Văn Tưởng - phụ trách chính trị.

- Đồng chí Mười Kiên - phụ trách hậu cần.

- Trung tá Lê Văn Xai - phụ trách thông tin liên lạc.

Trước khi đi, Tổng cục Chính trị yêu cầu cán bộ chủ chốt đổi tên để giữ bí mật khi về Nam. Thường các anh chọn tên vợ hoặc tên con ghép với thứ hay họ của mình để thành tên mới (bí danh).

- Anh Trần Đình Xu lấy tên mới là Ba Đình.

- Anh Đào Sơn Tây là Tư Khanh.

- Anh Nguyễn Văn Quảng là Năm Phòng.

- Tôi, Lê Chân, lấy tên con trai đầu lòng của tôi.

Trước ngày đoàn xuất phát, anh Quang phân công tôi vào Nghệ An, Hà Tĩnh bắt liên lạc với Tiểu đoàn tiền trạm của anh Hai Lâm (Lê Văn Nhỏ) để nhằm tổ chức cầu vượt sông Bến Hải. Tiểu đoàn anh Hai Lâm đi mở đường. Anh Hai Lâm cho biết chưa vượt qua Bến Hải được, mà đóng quân phía bờ bắc Bến Hải thì pháo phía Nam bắn qua chịu không nổi.

Tôi về báo cáo lại chỉ huy đoàn, anh Quang báo lên Quân ủy và Bộ Quốc phòng để xin ý kiến.

Bộ Quốc phòng lệnh cho đoàn mở hướng sang Lào. Do vậy đoàn chia làm mấy bộ phận nhỏ và lần lượt xuất phát.

Đoàn chúng tôi rời Hà Nội ngày 7/5/1961. Tôi còn nhớ lúc xe đến Thanh Hóa nghe Đài Tiếng nói Việt Nam phát thanh liên tục các ca khúc kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Điệu nhạc, lời ca hùng tráng làm nức lòng các chiến sĩ mùa thu trên đường hồi kết, về lại chiến trường xưa. Ngủ lại Hà Tĩnh một đêm, sáng hôm sau xe đưa đoàn tiếp đến Quảng Bình. Tại đèo Mụ Giạ phía bắc Quảng Bình, sát biên giới Lào, đoàn chia làm nhiều toán bắt đầu đi bộ.

Hôm dừng chân ở Lằng Khằng (thuộc tỉnh Khăm Muộn của Lào, ngang Quảng Bình), tôi liên lạc với đồng bào địa phương để mua một con heo cỏ. Ở đây đồng bào nuôi heo thả vào rừng và chỉ bán heo đực. Mặc dù hỏi kỹ như thế nhưng anh Ba Đình ngại vi phạm chính sách nên cự nự quá cỡ.

Anh Tư Khanh vai bếp trưởng, Đoàn Hùng phụ đào gò mối làm lò quay. Củi rừng không thiếu. Anh Tư Khanh hỏi:

- Sao anh Tưởng? Anh Ba Đình rầy rà quá?

Tôi nói:

- Không sao đâu, anh cứ nấu nướng, tôi hỏi kỹ rồi không vi phạm gì cả.

Vậy mà nấu nướng xong, mời anh Ba Đình, anh vẫn không ăn.

Đến Na Phi Lăng, đoàn nhận gạo tiếp tế từ máy bay thả xuống. Mỗi người vô đầy "ruột tượng" 5 kilôgam để ăn dần đến trạm kế tiếp. Lúc bấy giờ chưa có lương khô, mỗi người đi được cấp:

- 1 kilôgam nước nắm cô đặc.

- 1/2 kilôgam mì chính (bột ngọt).

- 1 kilôgam đường cát.

Đi cùng đoàn có bác sĩ, y tá và cơ số thuốc cần thiết dùng cho đoàn. Tôi còn mang theo tài liệu mật mã của Trung ương gửi vào Xứ ủy (nặng khoảng 1 kilôgam), anh Tư Khanh phụ trách mấy người mang tiền.

Đoàn chia làm ba đoàn nhỏ (mỗi đoàn gồm hai đại đội). Tôi và anh Tư Khanh đi chung một đội.

Anh Ba Đình đi chung với mấy anh dự kiến đi về các quân khu như các anh Đỗ Vọng, Nguyễn Hoài Pho, Nguyễn Văn Tư, Hải Phụng (Trần Lương)... Anh Tám Xai đi cùng nhóm thông tin liên lạc của anh.

Đi sâu vào đất Lào thuộc tỉnh Xavẳnnakhẹt, thị trấn Mường Phìn vừa được bộ đội Lào giải phóng, một vài nơi cháy, khói còn lên nghi ngút.

Hành trình của đoàn thật gian khổ vì đây là chuyến đi đông người đầu tiên, lương thực các trạm dọc đường cung cấp không đủ, bản thân anh em Ở trạm cũng thiếu, nhiều đoạn chưa thông, vừa trinh sát mở đường vừa đi. Từ Mường Phìn vượt qua ngọn đồi thấp, hôm sau vượt núi Pehai là núi cao nhất trong chặng này. Từ sáng sớm lên dốc đến khoảng 9 giờ, tôi mở đài nghe tin tức. Tôi kêu anh Tư Khanh vượt lên đi gần tôi để nghe tin tức và nghe Trần Khánh hát.

Anh nói:

- Ôi, leo mệt thấy mồ mà còn cố nghe hát càng thêm mệt! Một hôm tôi được bố trí ở nhà hai cha con ông cụ người Lào, có cô con gái độ chừng mười tám, mười chín tuổi.

Ông cụ có cây gậy bằng tre rừng nhiều đốt, chỗ tay cầm cong tự nhiên rất đẹp; thật đắc dụng cho người lớn tuổi trèo đèo vượt suối.

Nhân lúc thay quần áo sau khi tắm suối lên, tôi lấy chiếc quần ngắn ra dấu xin đổi cây gậy.

Ông cụ hiểu ý lại lấy cây gậy trao cho tôi và nhận cái quần ngắn ra vẻ thích thú.

Trong lúc tôi chải tóc, cô gái đứng nép bên vách nhìn theo hình như lạ lắm. Tôi đưa chiếc lược cho cô và ra dấu bảo cô chải tóc của cô. Cô gái làm theo tỏ ra vui mừng. Tôi tặng luôn cho cô chiếc lược.

Cây gậy Trường Sơn năm ấy tôi vẫn giữ kề bên mình cho đến bây giờ. Tre rừng lên nước vàng óng, cây gậy là kỷ vật của thời vượt Trường Sơn gian khổ hào hùng, nhìn gậy lại nhớ đến hai cha con cụ già người Lào tốt bụng năm xưa.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:06:53 pm »
Đường đi quanh co theo địa thế thiên nhiên, khi lên cao, lúc xuống thấp, trạm bố trí dọc đường đi những chỗ có suối để lấy nước dùng trong sinh hoạt thường ngày.

Sông Xê Băng Hiêng rộng mà không sâu lắm, đến huyện ly Xê Pôn chia làm hai nhánh: nhánh hướng lên đông bắc trên đất Lào ngang vùng Bến Hải (Quảng Trị); nhánh đông nam xuôi về tây bắc Khe Sanh.

Ở sông Xê Băng Hiêng có mấy chiếc thuyền độc mộc đủ sức chở chín đến mười người, đồng bào hỗ trợ đoàn qua sông, nhất là bộ phận thông tin, bộ phận vũ khí.

Đã vào mùa mưa hơn một tháng, măng le và măng tre rừng có nhiều (loại tre rừag không gai, dao lóng, giống như cây luồng ngoài Bắc hoặc tre lục bình trong Nam).

Rau rừng và măng là nguồn lương thực thiên nhiên góp phần đắc lực nuôi sống bộ đội Trường Sơn mọi thời kỳ.

Sông Xê Mang Khang hẹp hơn sông Xê Băng Hiêng, rộng chừng vài mươi mét. Bình thường dân có thể đi qua được nhưng lúc đoàn đến đây phía trên nguồn có mưa lớn nên nước tràn về, dâng cao. Anh em ở trạm có đi thuê giùm voi để giúp thồ hàng qua sông nhưng nước hơi sâu và chảy xiết giữa các gộp đá ngầm nên voi không đi được.

Cuối cùng anh em công binh dùng dây dù cột vào dây mây rừng để lội kéo qua dòng nước chảy xiết, cột hai đầu dây vào gốc cây ở hai bên bờ để giúp anh em nương theo lúc lội qua sông.

Anh Năm Phòng quê Ở Vĩnh Cửu (Đồng Nai) không biết bơi nên cẩn thận lột dép xâu lại rồi quàng lên cổ lúc nương theo dây vượt qua sông (Năm Phòng tức Nguyễn Văn Quảng sau này là Chính ủy Sư đoàn 9, Phó chính ủy Quân khu 8, Tư lệnh Quân đoàn 4). Anh Tám Xai ỷ mình biết lội, đủ sức "qua cầu"' nên cứ để nguyên dép qua sông. Rủi cho anh, nửa chừng trượt chân thế nào đó mất chiếc dép bên chân trái.

Bên này sông anh Tám Xai cười, chọc anh Năm Phòng là "cục đá miền Đông", ngầm ý rớt đâu cũng chìm.

Sang bên kia sông, Tám Xai xé ống quần quấn bàn chân thay dép. Năm Phòng nói:

- Ngày xưa cô Tấm quê mùa nhưng ăn Ở hiền lành, nên rủi mất chiếc giày mà duyên may trở thành hoàng hậu. Thời nay giữa Trường Sơn thơ mộng, anh Tám mất dép trở thành thủ lĩnh "Đại cái bang!".

Anh Tám trừng mắt nhìn Năm Phòng nói:

- Mày cười trên đau khổ của tao hả mậy!

- Anh em cười ồ, quên cái vất vả lúc vượt sông.

Đến trạm liền kế, Năm Phòng ngoại giao với anh em xin cho Tám Xai đôi dép khác. Không rõ Tám Xai có nối lại cái ống quần đã xé không?

Nhân nói về anh Tám Xai và anh Năm Phòng, lại nhớ thêm câu chuyện "tiền trảm hậu tấư".

Hôm đến A Roi, tây bắc tỉnh Quảng Nam, con ngựa trợ chân của anh Quang thiếu ăn, thiếu chăm sóc, ốm đi không nổi. Người xưa nói "Trường đồ tri mã lực" (đường dài mới biết sức ngựa). Lẽ thông thường là như vậy nhưng hành trình vượt Trường Sơn thật gian lao, lương thực dành cho người còn không đủ thì lấy đâu bồi dưỡng cho ngưa. Điều kiện hành quân lại khẩn trương không có thì giờ chăm sóc nên trong trường hợp này, sức chịu đựng của ngựa không kham nổi. Không còn cách nào khác, Tám Xai và Năm Phòng quyết định "tiền trảm hậu tấư' vì lúc đó anh Quang đã vượt trước, không chung một cung đường.

Chiều hôm ấy, Năm Phòng đến chỗ anh Quang. Năm Phòng kể:

"Anh đang ngồi nghỉ trên nhà sàn cạnh bếp hun muỗi, râu ria xanh rì, có lẽ mấy ngày không cạo, chân lại sưng to vì bị rắn lục chạm. Mặt rám nắng, sạm đen, trông anh tôi liên tưởng đến các vị "Hảo hán Lương Sơn Bạc" trong truyện Thủy hử. Vừa thấy tôi (Năm Phòng) anh nói:

- To gan! Sao dám xẻ thịt con ngựa của tớ!

Tôi nói:

- Thưa anh, tôi đến để báo cáo với anh đây, nhưng ai lại nhanh hơn "người trong cuộc" báo với anh sớm vậy?

Anh Quang nói:

- Là thủ lĩnh mọi chuyện xảy ra đều phải biết chứ? Này, đến báo cáo mà có đem thịt ngưa theo không đấy?!

- Thưa anh, "tang chứng, vật chứng" có đầy đủ đây ạ!".

Trong bài viết "Đoàn Phương Đông vào Nam" anh Quang kể:

"Đúng ngày kỷ niệm Điện Biên Phủ 7/5 (1961), chúng tôi lên đường... Sau 2 ngày đi ô tô đến đèo Mụ Giạ, đoàn chia làm nhiều bộ phận bắt đầu đi bộ. Khi đi trên đất ta, lúc đi trên đất Lào, Campuchia với rất nhiều gian nan, vất vả. Hầu hết trang bị mang theo mọi người đều vất bỏ, chỉ giừ lại bốn thứ: bao gạo, bi đông nước, bật lửa, vũ khí.

Khổ nhất là cái đói. Các trạm giao liên mới triển khai có trạm chỉ cấp gạo hoặc sắn cho chúng tôi đủ ăn một hai ngày đường, có trạm lo ăn cho bản thân chưa đủ lấy gì cấp cho đoàn.

Một lần, đoàn nghỉ trưa ở một bản dân tộc Giá Rai ở ngã ba biên giới Việt - Lào - Campuchia. Anh em mang cơm nắm ra ăn. Theo phép lịch sự, tôi mời gia đình cùng ăn. Họ ăn thật? Chúng tôi đành ôm nhau ngủ, chịu đói. Ông chủ nhà tinh ý, vác cần câu chạy ra suối, câu được hơn một chục con cá, ông nướng cá kêu chúng tôi dậy, bảo: "Cá đây, chúng mày ăn đi". Sau đó nhà còn ít sắn khô, ông vét hết bắt chúng tôi nhận.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Một thời ở cục chính trị QGPMN (B2)« Trả lời #5 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2016, 08:07:36 pm »
Đến trạm giao liên Đắc Trưng, quá mệt mỏi tôi đề nghị trạm cho nghỉ vài ngày. Trạm chỉ có gạo cấp cho chúng tôi đi đường, còn ở lại thì chỉ có sắn. Sắn rất nhiều. Anh em tha hồ đào sắn để nướng, để luộc.., lại được trạm cho hai con trâu giết thịt bồi dưỡng. Thế là hết người này đến người khác nằm la liệt vì bị say sắn, bị "Tào tháo đuổi", bị sốt rét ập đến... Vài ngày sau đoàn lên đường vào Kon Tum, đành để lại gần 50 người đi sau.

Từ Kon Tum trở vào, đoàn chia làm hai bộ phận: Một số theo đường 14 đi về phía tây thẳng vào Nam Bộ. Tôi (Trần Văn Quang) và gần chục đồng chí đi về hướng đông, vừa đi vừa làm việc với lãnh đạo Lâm Đồng và Khu 6.

Căn cứ của các khu đều nằm ở trong rừng sâu núi cao, khí hậu khắc nghiệt, nước lạnh buốt, anh em hàng tháng mới xuống núi tắm một hai lần...

Đoàn anh Quang được trạm Đắc Trưng chiêu đãi, bồi dưỡng nên được ăn thịt trâu miễn phí, ngược lại đoàn của tôi (Lệ Văn Tưởng) và Tư Khanh mua trâu của dân, trả tiền đàng hoàng nhưng chẳng ăn được miếng thịt nào...

Số là hôm đến tây Lâm Đồng, anh em trong đoàn nhờ ông trưởng trạm tên là Ma Thân mua giùm một con trâu trong đàn trâu do dân nuôi thả lan ở rừng với giá 2.000 đồng - dân giúp bắt trâu và cột néo vào gốc cây ven rừng. Con trâu to và khá hung hăng.

Ông trưởng trạm rất khó tính, anh em trong đoàn nói mãi ông mới đồng ý cho bắn hai phát súng để hạ con trâu.

Ba cán bộ tác chiến đều là xạ thủ có hạng ở sư đoàn, anh nào cũng muốn ra tay nhưng tự dàn xếp với nhau, cuối cùng đồng chí Xuyến được giao nhiệm vụ xạ thủ.

Anh Tư Đức phụ trách tài vụ trong đoàn chúng tôi được giao nhiệm vụ cùng mấy cậu nữa đi mua trâu về xẻ thịt.

Tôi và anh Tư Khanh nằm đợi, tưởng tượng các món thịt trâu nướng, thịt trâu xáo măng, ăn một ít, một ít dành đi đường!

Nằm đợi mỏi mòn, tranh thủ chợp mắt chốc lát để sáng sớm lên đường. Đến hai giờ sáng anh Tư Đức về báo lại: cậu xuyến bắn không trúng vào đầu con trâu mà trượt vào bả vai, con trâu lồng lên, bứt dây chạy vào rừng tìm mãi không bắt lại được.., giờ không biết tính sao! (vì đã trả tiền và bắn trâu bị thương).

Thấy gương mặt anh Tư Đức ỉu xìu tôi nói: "Người ta giao trâu cho mình, giúp cột trâu vào gốc cây coi như việc bán trâu đã xong rồi, mình bắn không chết, làm trâu bị thương chạy mất thì mình chịu chứ chẳng lẽ đòi tiền lại à?!

Thế mới biết, cái gì vào đến bụng rồi mới chắc ăn là vậy!

Đoàn anh Hai Bứa vào sau, tìm gặp chúng tôi anh kể: "Con trâu đoàn anh mua bắn bị thương chạy vào rừng, trạm tìm bắt lại được vào giao cho chúng tôi (đoàn Hai Bứa) xẻ thịt - ông trưởng trạm cho biết đoàn các anh trả tiền rồi nên ông không nhận nữa và bảo chúng tôi tìm các anh để hoàn số tiền 2.000 đồng”.

Thời ấy cán bộ, chiến sĩ thật trung thực, trong sáng, rất đáng quý.

Cũng từ cung đường này trở vào, lương thực mỗi ngày thêm khó khăn. Anh em phải ăn độn rau rừng, măng tre. Măng tre rừng ăn dễ say, phải luộc bỏ nước đầu. Theo kinh nghiệm của người đi trước, say măng có thể uống mật ong hoặc thuốc Bl với đường cát để giải độc.

Đồng bào miền cao thường trồng mè bao quanh nương rẫy vì mè thường có sâu, voi rừng thấy sâu rất sợ nên không dám càn vào rẫy phá hoại. Thời kháng chiến chống Pháp tôi tham gia khóa đào tạo đại đội trưởng tại miền Đông nên biết điều này. Cần vụ của anh Đào Sơn Tây và anh Tư Thành lựa rau không kỹ còn sót lá mè báo hại mấy anh bị "Tào Tháo đuổi" ngủ không được.

Đến trạm Phước Long do anh Hai Phong (Hai Nghỉ) phụ trách. Trạm cũng hết gạo nên mỗi đại đội chỉ được phát 90 lon vét bồ nấu ăn đỡ đói, anh em được phát thêm trái bắp khô loại để giống, phải ngâm nước rồi ăn dặm thêm chống đói.

Trong khi tôi và anh Ba Đình vào làm việc với Tỉnh ủy Phước Long thì anh Năm Phòng và một số anh em khác trong đoàn tổ chức tiệc trà mừng đã tới được miền Nam. Anh Năm Phòng đề nghị tất cả hướng về miền Bắc cảm ơn đồng bào đã nuôi dưỡng sáu, bảy năm qua. Tôi ít hút thuốc nên còn để dành được hai bao thuốc Thăng Long cùng góp vào tiệc trà. Thời điểm ấy mà được uống trà Ba Đình, hút thuốc Thủ đô, Thăng Long thì tuyệt vời, anh em tạm quên cái đói khi vừa về tới địa đầu Nam Bộ.

Trong bài viết "Đoàn Phương Đông vào Nam" do anh Trần Văn Quang kể, Văn Thành ghi có đoạn:

"Ngày 27 tháng 8 năm 1961 bộ phận cùng đi với tôi vào đến Nam Bộ, tiếp đến là những anh khác. Cuối năm 1961, người cuối cùng của Đoàn Phương Đông mới vào đến cà Mau...".

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn