Một thời sống đẹp như thế! (1)
Hoãn cưới để đi B “Sinh ra trong một gia đình có bố đi làm cách mạng ở làng Đại Hòa, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, tôi sớm trải qua những ngày vất vả chạy giặc cùng mẹ. Năm 1954, tôi cùng mẹ tập kết ra Bắc và được học tập ở trường học sinh miền Nam đến ngày đi học ở Trung Quốc. Năm 1966, Trung Quốc tiến hành Đại cách mạng văn hóa giai cấp vô sản, tôi trở về học tại Trường Đại học Y Hà Nội, đang sơ tán ở Bắc Thái (nay thuộc Thái Nguyên). Từ đây, tôi mới quen biết Đỗ Văn Đốc, tr
Hoãn cưới để đi B
“Sinh ra trong một gia đình có bố đi làm cách mạng ở làng Đại Hòa, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, tôi sớm trải qua những ngày vất vả chạy giặc cùng mẹ. Năm 1954, tôi cùng mẹ tập kết ra Bắc và được học tập ở trường học sinh miền Nam đến ngày đi học ở Trung Quốc. Năm 1966, Trung Quốc tiến hành Đại cách mạng văn hóa giai cấp vô sản, tôi trở về học tại Trường Đại học Y Hà Nội, đang sơ tán ở Bắc Thái (nay thuộc Thái Nguyên). Từ đây, tôi mới quen biết Đỗ Văn Đốc, trở về từ trường đại học ở Nam Kinh (Trung Quốc), còn tôi học ở Vũ Hán. Lớp tôi vào muộn, toàn là các bạn đi học ở Trung Quốc về, khi các lớp khác đã vào học trước một tháng rồi”-bà Nguyễn Thị Phượng bắt đầu câu chuyện với chúng tôi.
Vào sau, vừa học đuổi cho kịp các bạn, vừa phải làm nhà để ở, làm hội trường để học, cùng chia sớt những vất vả ở nơi sơ tán, hai người dành tình cảm cho nhau lúc nào chẳng hay. Phượng ấn tượng trước chàng trai vui tính, dễ gần, lại có năng khiếu văn nghệ. Hai người lại có điều kiện gần gũi trong các hoạt động tập thể, lúc ôn bài, khi đi lấy củi, đi tiếp phẩm, lấy nứa về làm lán trại. Cũng chẳng ai nói tiếng “yêu” mà chỉ là những cử chỉ đặc biệt, sự quan tâm, lo lắng dành cho nhau trong cuộc sống. Tình yêu lãng mạn ấy diễn ra 3 năm trên đất Bắc Thái cho đến ngày về đồng bằng, lại cùng nhau trải qua những ngày tháng thực tập ở khắp các bệnh viện của thành phố.
Bà Phượng kể: “Nhớ những ngày dậy từ 5 giờ sáng, từ khu ký túc xá của trường ở đường Tôn Thất Tùng, chúng tôi đi bộ đến các bệnh viện: Xanh Pôn, Việt Đức, Bạch Mai... tất cả bệnh viện từ Trung ương đến của Hà Nội, Bệnh viện Hà Đông, Bệnh viện Ân Thi (Hưng Yên), chẳng nơi nào thiếu bước chân chúng tôi. Nhưng có lẽ nhớ nhất là lần thực tập ở Ân Thi, hôm đó là chủ nhật, chúng tôi rủ nhau về Hà Nội chơi. Hai đứa đèo nhau trên một chiếc xe đạp, lại đi ngược gió, tôi bảo anh cho tôi xuống bắt xe khách mà anh không chịu. Cứ thế anh đèo tôi qua hết các cung đường, có lúc tôi đèo anh, nhưng sức con gái chỉ đi được một lát là phải đổi tay lái. Cố mãi chúng tôi cũng về đến Hà Nội, nhưng cả hai đều mệt nên chẳng đi chơi được nữa!”.
Học đến năm thứ 5 thì Đỗ Văn Đốc có quyết định nhập ngũ. Khi anh về Trường Đại học Quân y để học tập tiếp thì Phượng về trạm xá xã Yên Mỹ (Thanh Trì) chống lụt. “Hôm ấy, đã 9 giờ tối, tôi đang ngồi nói chuyện với các bạn thì có người gọi cửa. Tôi ra mở thì thấy anh, người bê bết bùn đất, áo ướt sũng, quần xắn quá đầu gối, xe đạp cũng đầy bùn. Anh bảo học sắp xong, chuẩn bị về đơn vị tăng thiết giáp, được nghỉ buổi tối, lại nghĩ cách chỗ tôi chỉ có 7-8km nên anh mượn xe đến thăm. Ai dè, trời mưa rét, đường đất lầy lội, trơn trượt, để vào được chỗ tôi, anh phải vác xe trên vai, đi bộ 4-5km. Chúng tôi đã ngồi trò chuyện thâu đêm để 4 giờ sáng hôm sau, anh lại vác xe trở lại trường”-bà Phượng kể.
Những kỷ niệm êm đềm như thế đã theo chân bác sĩ Đỗ Văn Đốc vào chiến trường, bởi ý định tổ chức lễ kết hôn khi bác sĩ Phượng học xong đã không thành. Bà Phượng nhớ lại: “Đầu tháng 12-1972, sau khi tốt nghiệp, tôi nhận công tác về Bộ môn Nhi, Trường Đại học Y Hà Nội. Anh về đưa cho tôi bản lý lịch có dấu của đơn vị, bảo tôi lên trường xin xác nhận để mang nộp cho đơn vị anh, xong thủ tục thì về xin phép bố mẹ hai bên cho tổ chức. Nhưng rồi ngày 15-12, anh lại về, báo đơn vị sắp đi B. Vậy là lễ cưới đành phải gác lại!”.
Bác sĩ Phượng buồn thương, lo lắng, nhưng đành phải giấu đi để người yêu yên tâm lên đường. Ngày cuối trước khi đi B, anh tìm về Hà Nội để chia tay thì Phượng lại không có nhà, chỉ kịp viết lại cho người yêu mấy dòng thư báo tin. Cuối tháng 12 năm ấy, bác sĩ Đốc cùng đồng đội hành quân vào chiến trường miền Nam.
Trái ngọt hạnh phúc
Những ngày tháng anh Đốc hành quân vào chiến trường thì cũng là những ngày tháng bác sĩ Phượng ở hậu phương đối diện với muôn vàn hiểm nguy trong 12 ngày đêm không quân Mỹ ném bom đánh phá Hà Nội.
Trong nhật ký, bác sĩ Phượng đã ghi lại: “19-12-1972. Một tối sống trong bom đạn suốt từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng. Thật kinh khủng! Biết bao người lại ngã xuống. Ngồi ở cầu thang, mỗi lần bom rơi nó rung cả người. Nhớ Đốc, giá có Đốc bên cạnh thì đỡ sợ hơn!”. Còn anh Đốc cũng gửi cho Phượng những dòng thư chan chứa âu lo khi nghe tin Bệnh viện Bạch Mai bị bom Mỹ đánh trúng: “Mấy ngày hôm nay Đốc lo lắm... Nghe tin Khoa Da liễu, Tai mũi họng, nhà ga... bị đánh sập cả. Đốc không yên tâm cho tình hình sức khỏe của Phượng...”; “Đốc mong thư Phượng, mong tin gia đình. Mấy ngày đi trên đường Trường Sơn thấy B-52 đánh Hà Nội mà phấp phỏng không hiểu Phượng thế nào, sống ra sao trong những ngày khói lửa ấy và bây giờ ra sao?”...
Sau đó là gần 3 năm mòn mỏi trong ngóng trông. Những lá thư thi thoảng mới nhận được trở thành sợi dây nối kết tình cảm của hai người. Bà Phượng kể: “Cuộc chiến ngày càng ác liệt, ở hậu phương, giữa những ca trực, tôi phấp phỏng mong tin chàng bác sĩ ở đơn vị tăng thiết giáp của mình qua những cánh thư viết vội. Nơi chiến trường, giữa lằn ranh sinh tử, anh cũng hướng về tôi với niềm thương nhớ khôn nguôi”.
Đã có lúc anh Đốc viết thư bảo người yêu đừng chờ đợi anh nữa, nếu có ai vừa ý thì hãy xây dựng gia đình. Nhưng hơn ai hết, Phượng hiểu được nỗi trăn trở của người yêu mà không giận và càng thương anh hơn. Chắc chắn ở giữa rừng cao su Lộc Ninh với những trận chiến ác liệt, lại chẳng biết ngày nào có thể trở ra Bắc, anh mới nói thế! Lúc ấy, Phượng đã nghĩ, chỉ khi nào biết tin anh Đốc hy sinh thật sự thì mới không hy vọng nữa, chứ nếu anh có bị thương hay tàn tật thì vẫn chờ anh trở về.
Đất nước thống nhất, bác sĩ Đỗ Văn Đốc lành lặn trở về. Cuối năm 1975, hai người làm lễ cưới. Đám cưới được họ tổ chức tại nhà chú thím của cô dâu ở Hà Nội, rồi về quê chú rể ở xã Thanh Hương, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, sau đó đi tàu về Thanh Chương, Nghệ An, nơi mẹ và các em của cô dâu đang ở. Hết phép, bác sĩ Đốc trở lại đơn vị ở Sài Gòn. Cuộc sống “vợ chồng son” được tính bằng những ngày phép của ông. Tháng 12-1976, họ mới gặp lại nhau khi ông được chuyển ra Bắc và bà đã sinh con trai đầu lòng được một tháng. Đơn vị đóng quân ở Vĩnh Phúc, nhưng thi thoảng ông mới được về nhà trong những lần đi tranh thủ.
Bà Phượng kể rằng, không thể tính hết những vất vả của người phụ nữ một mình sinh con, rồi lại một mình nuôi con khi chồng cứ đi biền biệt. Mãi đến khi gần sinh con, bà mới được ở riêng trong căn hộ tập thể rộng 6m2, rồi sau này là căn hộ 24m2 cùng một đồng nghiệp. Công việc của một bác sĩ luôn bận rộn, con ốm đau vẫn phải đi trực. Đồng lương của hai vợ chồng đều eo hẹp. Nhưng bà thông cảm, chia sẻ với nghề nghiệp của ông, cũng như luôn bản lĩnh, sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc đời.
Sau 13 năm gắn bó với nghiệp nhà binh, ông chuyển công tác về Trường Đại học Y Hà Nội rồi lại vào công tác ở Vũng Tàu. Bà Phượng trải lòng, cuộc sống cứ như “vợ chồng ngâu” bởi những xa cách biền biệt đến tận khi ông được nghỉ hưu năm 2005. Cho đến ngày ông mất vì bạo bệnh năm 2012, thì những tháng năm vợ chồng trọn vẹn bên nhau quả có thể chỉ đếm được trên đầu ngón tay vậy!
Giờ đây, ở tuổi 76, bà vẫn sống trong căn nhà tập thể cũ, nơi ghi dấu bao kỷ niệm của gia đình. Lúc rảnh rỗi, bà dành thời gian ghi lại những ký ức sâu đậm của một thời. Chia tay chúng tôi, bà bảo bà muốn ở đây, giữ gìn nơi này cùng những kỷ vật của gia đình để con cháu biết được ông bà, bố mẹ chúng đã có một thời sống đẹp như thế!


