Một thời thanh xuân gửi lại
Có những năm tháng mà bầu trời không chỉ có nắng và gió, mà còn rực cháy bởi màu lửa của đạn bom và màu đỏ của những trái tim yêu nước. Những năm tháng ấy, người ta gọi là 'Thời hoa lửa' nơi mà tuổi trẻ của một thế hệ đã gửi lại trên những cánh rừng, những con đường ra trận. Hôm nay, khi lật mở từng trang ký ức đã nhuốm màu thời gian, chúng ta không chỉ đọc lại lịch sử, mà là đang chạm vào những nhịp đập thổn thức của một thời thanh xuân rực rỡ nhất, đau thương nhất nhưng cũng kiêu hãnh nhất của cha ông
Trong dòng chảy dữ dội của lịch sử ấy, không chỉ có những người lính nơi tiền tuyến, mà còn có biết bao con người bình dị đứng vững giữa hậu phương, âm thầm góp sức bảo vệ quê hương. Họ là những dân quân tự vệ – những người vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng cầm súng khi Tổ quốc cần. Bà Nguyễn Thị Bông chính là một trong những con người như thế.
Những năm tháng chiến tranh, bà đã khoác lên mình màu áo dân quân tự vệ, tham gia canh gác, bảo vệ xóm làng, đối mặt với bom đạn và hiểm nguy ngay trên mảnh đất quê hương mình. Tuổi trẻ của bà không gắn với những ước mơ riêng tư yên bình, mà hòa vào nhịp đập chung của đất nước, của tinh thần sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do. Chiến tranh đã đi qua cuộc đời bà, để lại những ký ức không thể phai mờ – vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa lặng lẽ mà cao đẹp.
Năm 1972, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta bước vào một giai đoạn đặc biệt gay go và quyết liệt. Trước những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ tiếp tục thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đồng thời liều lĩnh leo thang đánh phá miền Bắc lần thứ hai nhằm phá hoại tiềm lực của ta, hòng cắt đứt con đường chi viện cho tiền tuyến và tạo sức ép trên bàn đàm phán Paris. Trong bối cảnh ấy, các tỉnh tuyến đầu miền Bắc, nhất là khu vực Bắc Trung Bộ, trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt của không quân và hải quân Mỹ. Trong đó, Phà Quán Hàu xưa kia nằm tại Thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, là một trong các nơi bị máy bay Mỹ đánh phá ác liệt nhất, là “túi bom”, “tọa độ lửa” của không quân và pháo hạm Mỹ nhằm chặt đứt nguồn lực từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện cho miền Nam ruột thịt. Để bảo vệ phà, thông xe không biết bao chiến sĩ đã anh dũng ngã xuống tại bến phà này.
Xuyên suốt cuộc trò chuyện, em dường như được quay trở lại một thời quá khứ oanh liệt qua những câu chuyện của bà. Tháng ngày khó khăn đủ điều, lương thực chẳng đủ ăn cùng tiếng bom đạn luôn gầm rú trên đầu như sống lại một lần nữa qua lời kể của bà. Trong số những mẩu chuyện mà bà kể, để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng em là một trận đánh tại bến phà Quán Hàu được lưu lại trong cuốn sổ tay của đơn vị phòng không xã Lương Ninh mà bà cho chúng em xem.
“Ngày 20 tháng 10 năm 1972. Nhận được lệnh đơn vị 12,7 ly, ta, từ bên Xóm Cát về Quán Hàu, bố trí tại điểm cao cạnh lô cốt cũ (nay là nhà chị Hiền TKS) với tư thế sẵn sàng. Vào lúc 10 giờ trưa máy bay Mỹ từ phía Nam, bổ nhào vào trận địa cả 2 khẩu đội đồng loạt nổ súng, một máy bay F05 bị trúng đạn bốc cháy rồi rơi ra biển. Đồng chí Trần Thị Gái tay đang ghì súng, đồng chí Võ Sỹ Đèo với tư thế nổ súng loạt hai. Thì hàng loại bom rơi xuống.
Cả 2 đồng chí bị thương nặng, đồng chí Thí và đồng chí Ở, khẩu 2 cũng bị thương. Đồng chí Duy cùng anh em đưa cả 4 đồng chí vào lô cốt tạm thời băng bó. Vừa bắn súng cấp cứu, lực lượng dân quân từ Văn La, bất chấp bom đang nổ, máy bay đang gầm rú đã kịp thời vào trận địa đưa 4 đồng chí về tuyến sau. Vì vết thương quá nặng, đồng chí Đèo và Gái đã hy sinh trên đường về trạm xá.
Anh em vô cùng thương tiếc 2 đồng chí hy sinh anh dũng, đã góp phần cùng đơn vị hạ một thần sấm giặc Mỹ.”
Câu chuyện trên tái hiện một phần nhỏ của những đau thương mà thế hệ đi trước đã phải trải qua. Câu chuyện về bà và những năm tháng dân quân không chỉ là lời kể về quá khứ, mà còn là một bản giao hưởng giữa lòng quả cảm và sự hy sinh thầm lặng. Đối với thế hệ trẻ chúng em, những người lớn lên trong hòa bình câu chuyện này có ý nghĩa như một "chiếc cầu nối" tâm hồn giữa hai thế hệ. Nó giúp chúng em hiểu rằng, cái giá của sự bình yên không chỉ được đo bằng thời gian, mà bằng cả thanh xuân và máu xương của những người đi trước. Ý nghĩa lớn nhất của câu chuyện chính là sự thức tỉnh về lòng biết ơn. Khi nghe bà kể về những đêm không ngủ, những lần đối mặt với hiểm nguy để bảo vệ từng chuyến xe, từng con đường, chúng em nhận ra rằng lòng yêu nước không cần phải là điều gì quá to lớn, nó bắt đầu từ trách nhiệm bảo vệ quê hương trong những giờ phút ngặt nghèo nhất. Câu chuyện là ngọn đuốc thắp sáng niềm tự hào, nhắc nhở chúng em phải sống sao cho xứng đáng với những gì đã được đánh đổi.
Lắng nghe những hồi ức của bà, điều khiến em trăn trở nhất chính là sự lựa chọn giữa cái sống và cái chết trong những giây phút ngặt nghèo. Hóa ra, lòng dũng cảm thực sự không phải là sự liều lĩnh hay không biết sợ, mà là bản lĩnh nén lại nỗi sợ hãi cá nhân để bảo vệ những giá trị lớn lao hơn. Hình ảnh những người dân quân tay không nhưng vẫn kiên cường bám trụ trận địa, đối mặt với bom nổ chậm chỉ để giữ vững mạch máu giao thông, đã cho em thấy một chân lý: khi con người ta sống có lý tưởng, họ có thể vượt qua mọi giới hạn của bản thân. Câu chuyện còn là minh chứng sống động cho sức mạnh của sự tử tế và tình đồng bào. Trong khói lửa, người ta không chỉ chiến đấu bằng súng đạn mà còn bằng sự đùm bọc, sẻ chia từng bát cơm, manh áo hay cùng nhau thức trắng đêm lo hậu sự cho đồng đội. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn cả chính là thái độ sống khiêm nhường của bà ở hiện tại. Dù đã đi qua một thời kỳ rực lửa và đầy tự hào, bà vẫn chỉ lặng lẽ coi mình là một phần nhỏ bé của lịch sử. Cách bà nhìn nhận về quá khứ dạy cho em biết trân trọng những đóng góp thầm lặng, biết sống bao dung và giữ vững niềm tin vào những điều tốt đẹp, dù trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào.
Mong muốn lớn nhất của em khi chia sẻ câu chuyện này là để những giá trị tinh thần quý báu của thế hệ đi trước không bị lãng quên. Em muốn mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ, thấy được chân dung của một "anh hùng bình dị" ngay giữa đời thường. Chia sẻ câu chuyện này cũng chính là cách để em lan tỏa ngọn lửa tri ân, để những cống hiến thầm lặng của bà và thế hệ dân quân năm ấy luôn được ghi nhớ và tôn trọng. Hơn thế nữa, em mong muốn câu chuyện này trở thành nguồn cảm hứng sống tích cực. Trong cuộc sống hiện đại với nhiều áp lực, hình ảnh bà và những năm tháng gian khổ nhưng hào hùng sẽ là động lực để chúng em kiên cường hơn, bớt than vãn và biết cống hiến nhiều hơn. Cuối cùng, em muốn thông qua câu chuyện này để khẳng định một điều: Lịch sử không chỉ nằm trong sách vở, lịch sử sống mãi trong trái tim và hơi thở của những con người như bà, và chúng em có trách nhiệm phải giữ cho ngọn lửa đó không bao giờ tắt.



