MỘT THƯƠNG BINH CỦA SƯ ĐOÀN TRÊN MẶT TRẬN MỚI
Đoạn văn kể về cuộc đời và nghị lực của thương binh – bác sĩ Nguyễn Văn Khoa, người từng là chiến sĩ Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 chiến đấu dũng cảm trên chiến trường Khu 5 và bị thương nặng trong trận giữ chốt Sô Đô năm 1969. Sau khi rời quân ngũ, ông tiếp tục học tập, trở thành bác sĩ nhãn khoa và gắn bó nhiều năm với ngành mắt tỉnh Thái Bình. Với tinh thần dám nghĩ dám làm và tận tụy vì người bệnh, ông đã góp phần xây dựng Trung tâm mắt Thái Bình thành một cơ sở y tế uy tín, mang lại ánh sáng cho
Đang học lớp 9 trường huyện, Nguyễn Văn Khoa xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tình nguyện gia nhập quân đội lên đường đánh Mỹ. “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn, nhân dân ta cũng phải giành cho được tự do, độc lập...”. Câu nói đó của Bác Hồ thôi thúc hàng vạn thanh niên quê lúa Thái Bình tòng quân giết giặc, trong đó có Khoa.
Vào chiến trường Khu 5, một chiến trường khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất. Được bổ sung vào Đại đội 61, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3, hoạt động ở chiến trường Bình Định, Quảng Ngãi, Khoa bắt đầu bước vào cuộc thử thách mới. Thời gian trôi đi, anh cùng đơn vị tham gia nhiều chiến dịch, trận đánh nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được biểu dương khen thưởng.
Đặc biệt, trận ngày 8-6-1969, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ đánh phá giao thông cắt đường 19 thuộc địa bàn xã Bình Giang, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định để phối hợp với chiến trường Tây Nguyên. Khoa cùng bốn đồng chí được giao nhiệm vụ chốt trên cao điểm Sô Đô để bảo vệ đơn vị đánh giao thông và cắt đường 19. Cả đêm ngày 7 tháng 6, năm người trên chốt thay nhau đào công sự, không ai đuợc chợp mắt. Sáng ngày 8 tháng 6, ngụy trang trận địa xong, mọi người đem cơm vắt muối vừng ra ăn. Cả đêm thức đào công sự mất ngủ, ai cũng mệt nhoài, họ phân công nhau người cảnh giới người tranh thủ đi ngủ.
Khoảng 10 giờ, pháo địch ở các trận địa bắn phá vào các cao điểm ven đường 19. Trong số đó, Sô Đô là một trọng điểm. Sau khi bắn pháo xong, một đại đội lính Nam Triều Tiên chia thành nhiều hướng, nhiều mũi đánh lên chiếm điểm cao Sô Đô. Cuộc chiến đấu ở đây bắt đầu. Sau mỗi đợt dùng bộ binh tiến công không thành, địch lại lui ra dùng phi cơ và pháo binh đánh phá. Cứ như thế cho đến 14 giờ, năm chiến sỹ ở Sô Đô đánh lui nhiều đợt tấn công của đại đội Nam Triều Tiên và làm bị thương nhiều tên địch, riêng Khoa đã bắn rơi một máy bay lên thẳng HU1A. Vào lúc này đã có ba đồng chí hi sinh, chỉ còn lại hai người là Khoa và Ngô Hữu Xông. Địch lại hô hoán tấn công. Bỗng Khoa bị một viên đạn bắn thẳng xuyên qua bả vai phải từ phía trước về phía sau, máu chảy ướt đẫm áo, Xông vẫn chiến đấu bắn điểm xạ những tên đến gần. Địch bị thương vong, la ó lùi ra xa, Xông tranh thủ băng bó vết thương cho Khoa. Tình hình lúc này rất căng thẳng, lực lượng cơ động của Tiểu đoàn vận động lên chi viện nhưng đều bị chặn giữa. Tuy đau, Khoa động viên Xông: “mình đã bị thương không chiến đấu được, Xông cứ yên tâm đi, tớ sẽ nạp đạn cho cậu chiến đấu, quyết giữ cho được chốt...”. Thế là trên điểm cao Sô Đô chỉ còn hai chiến sỹ, trong đó có Khoa bị thương nặng, nhưng họ động viên nhau quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ...
Cuối năm ấy, năm 1969, Xông được thay mặt cho năm chiến sỹ trên cao điểm Sô Đô đi báo cáo điển hình tại Đại hội thi đua Quân khu 5. Nguyễn Văn Khoa được tuyên dương “Chiến đấu dũng cảm bị thương nặng vẫn cùng đồng đội giữ vững trận địa.”
Do vết thương không thể ở lại chiến trường để điều trị, bệnh viện Quân khu 5 quyết định chuyển Khoa ra miền Bắc.
Sau khi điều trị xong vết thương, xét thấy sức khỏe anh không đảm bảo, cấp trên ra quyết định cho anh rời khỏi quân ngũ trở về địa phương. Trên lĩnh vực mới, Khoa lại tiếp tục “dùi mài kinh sử” học hết lớp 10 phổ thông và thi đỗ vào Đại học Y Thái Bình. Năm, sáu năm trời đèn sách trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh thật là một thử thách lớn đối với người thương binh ấy. Nhưng nhờ có nghị lực, tất cả những khó khăn Khoa đều vượt qua. Kỳ thi tốt nghiệp cuối khóa anh đạt điểm cao, xếp vào loại khá.
Ra trường được phân công công tác tại Viện lao Thái Bình, Khoa luôn chứng tỏ là một bác sỹ tận tụy với danh hiệu “Người thầy thuốc”. Thế rồi trên xét cho Khoa đi học lớp chuyên khoa I ngành nhãn khoa. Năm 1982, học xong được phân công về Trung tâm mắt Thái Bình, và từ đó đến nay Khoa gắn bó với nghành “nhãn khoa” cùng đồng nghiệp làm “sáng con mắt cho đời”.
Gần 30 năm qua công tác tại trạm mắt rồi lên trung tâm mắt (nay là Bệnh viện mắt) tỉnh Thái Bình, từ một bác sỹ điều trị được bổ nhiệm làm trưởng khoa, phó giám đốc, rồi giám đốc, anh đã cùng tập thể trung tâm mắt xây dựng được một cơ sở chữa mắt có uy tín không những chỉ ở trong tỉnh mà còn đối với những tỉnh lân cận như: Nam Định, Ninh Bình, Hưng Yên.... Từ một cơ sở vật chất kỹ thuật đơn sơ nay đã có một cơ ngơi khang trang, sạch đẹp, có đầy đủ những trang thiết bị hiện đại. Là một giám đốc, anh luôn quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên trong trung tâm. Những năm gần đây, Trung tâm mắt Thái Bình đã đưa kỹ thuật mổ thủy tinh thể trong bao theo phương pháp Fa cô, trả lại ánh sáng cho hơn hai vạn người. Ngoài ra anh còn tham mưu cho tỉnh, cho ngành xây dựng chiến lược “Phòng chống mù lòa”, “Phòng bệnh mắt hột, lông quặm”, “Phấn đấu đến năm 2010 Thái Bình sẽ thanh toán bệnh đau mắt hột và lông quặm”. Ngoài ra anh còn kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể như Giáo dục, Văn hóa, Phụ nữ, Bảo hiểm y tế...để triển khai chương trình phòng chữa mắt hột học đường. Do có nhiều giải pháp hữu hiệu nên năm 2004, đã có 100% số trường học triển khai chương trình này với tổng số 367.360 học sinh được khám, gần 50.000 học sinh được điều trị mắt hột. Cùng với trung tâm mắt, bác sỹ Nguyễn Văn Khoa đã đạt được lòng tin với các tổ chức từ thiện nước ngoài và hàng năm đem về nguồn viện trợ đáng kể như máy móc và kỹ thuật hiện đại, giúp hàng vạn người dân nghèo thoát khỏi cảnh mù lòa.
Là một cán bộ quản lý, với ý thức ham học hỏi, chịu khó nghiên cứu, bác sỹ Khoa đã làm chủ nhiều đề tài khoa học cấp tỉnh, cấp cơ sở như “Hiện trạng các bệnh về mắt ở Thái Bình”, “Hiện trạng tật khúc xạ ở học sinh và giải pháp phòng ngừa”, trực tiếp chỉ đạo đưa phẫu thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo bằng phương pháp Fa cô – một phương pháp tiên tiến nhất của ngành mắt thế giới hiện nay bằng cách chủ động cử cán bộ viên chức lên Viện mắt TW để học tập. Trong quá trình thực hiện chương trình này, trung tâm gặp nhiều khó khăn về vốn, giám đốc Nguyễn Văn Khoa trăn trở nhiều đêm nghĩ kế để thực hiện kế hoạch đầu tư mua máy móc, trong đó có một quyết định rất táo bạo là đem bất động sản nhà mình gần hai tỷ đồng để thế chấp vay vốn ngân hàng lấy tiền mua máy móc thiết bị...
Vốn sợ không thành công, “mất cả chì lẫn chài”, chị Rơi vợ anh lúc đầu cũng không đồng ý và không ký vào bản thế chấp, anh lại phải làm công tác tư tưởng động viên thuyết phục hàng tháng trời. Thấy chồng mình có quyết tâm cao và lòng tin vào việc làm mạo hiểm, chị cũng đồng ý cho chồng thực hiện. Số tiền vay ngân hàng được anh bàn với cấp ủy và anh em trung tâm mua máy Fa cô về triển khai mổ theo phương pháp tiên tiến với tư tưởng “đi tắt đón đầu” tiếp thu những kỹ thuật công nghệ hiện đại. Kết quả ban đầu, trung tâm đã phẫu thuật cho hơn 1112 ca theo phương pháp Fa cô chất lượng đảm bảo tốt, không có tai biến và nhiễm trùng, giảm được 2/3 số ngày nằm điều trị tại bệnh viện. Nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận được chữa mắt bằng kỹ thuật cao, giá viện phí rẻ...góp phần làm lợi cho nhân dân hàng tỷ đồng, đó là chưa kể chi phí đi lại và lưu trú từ Thái Bình lên Hà Nội của người bệnh và người nhà bệnh nhân. Chương trình chữa mắt theo phương pháp Fa cô đã sớm được nhân dân đón nhận và hoan nghênh nên ngày càng nhiều người đến khám và chữa bệnh tại Trung tâm mắt Thái Bình. Kết quả, từ năm 2004 đến 2007, Trung tâm mắt Thái Bình đã phẫu thuật thành công bằng phương pháp mới cho gần 8000 ca trong và ngoài tỉnh, rất nhiều ca thuộc diện chính sách, người già và người nghèo.
Năm 2006, cùng đoàn cán bộ của Bộ Y tế đi nghiên cứu tại Mỹ, anh lại kéo về cho trung tâm một số ngân sách của các tổ chức phi chính phủ trị giá hàng tỷ đồng.
Khi tiếp xúc với anh, anh phấn khởi thông báo: “Trung tâm mắt Thái Bình đã được chuẩn y thành Bệnh viện mắt Thái Bình vào tháng 3-2008”. Và anh được bổ nhiệm làm giám đốc Bệnh viện mắt Thái Bình. Nguyễn Văn Khoa bản chất là một người lính, là thương binh 2/4 giàu nghị lực, luôn có chí vươn lên, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên, phấn đấu 15 năm liền là chiến sỹ thi đua, năm 1999 anh được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú” và hai bằng lao động sáng tạo, được Thủ tướng Chính phủ cấp bằng khen. Nguyễn Văn Khoa đúng là một thương binh “tàn nhưng không phế”, dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo, thành đạt trong công tác.
Tôi đến gặp Khoa, anh khiêm tốn nói: “công lao này là của mọi người trong Trung tâm, trong đó có một phần công sức của tôi, những năm qua còn muốn làm nhiều việc nữa nhưng sức lực con người thì có hạn mà thời gian thì nó cứ trôi.”
Anh thực sự được mọi người yêu mến, xứng đáng là một thương binh trên mặt trận mới, vừa có tài vừa có tâm. Với kinh nghiệm 30 năm trong nghề, lại có một đội ngũ nhân viên có tay nghề vững, mọi người đồng tâm hiệp lực, nhất định Bệnh viện mắt Thái Bình sẽ còn phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh và nhân dân các tỉnh lân cận.
Chia tay anh trong buổi sáng xuân - một mùa xuân hứa hẹn chồi xanh lộc biếc./.



