Anh hùng Lao động

MỘT VỊ TƯỚNG KHIÊM NHƯỜNG, GIẢN DỊ

Vĩnh Long22/10/2026Xã Bù Đăng (Đoàn xã Bù Đăng)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngay sau khi trở về Tổ quốc năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ được Bác giao trọng trách là Cục trưởng Cục Quân giới, trực tiếp phụ trách việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ đắc lực vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Với những kiến thức, kinh nghiệm được học tập, nghiên cứu tại trời Tây, trong thời gian ngắn, bằng tài năng, trí tuệ, tinh thần nhiệt huyết, say mê, lòng yêu nước nồng nàn; sự quan tâm, tin tưởng, kỳ vọng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và toàn dân, toàn quân, Phạm Quang Lễ đã cải tiến và sáng chế ra nhiều loại vũ khí quân dụng, điển hình là súng Bazooka, súng SKZ 50mm, đầu đạn cỡ 160mm, đạn bay, đạn chống tăng AT. Những loại vũ khí đó góp phần quan trọng vào thành công của kháng chiến, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.

Đánh giá về hiệu quả và sức công phá của những loại vũ khí do Trần Đại Nghĩa chế tạo, Lucien Bodart trong Chiến tranh Đông Dương xuất bản tại Paris năm 1963 viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi”(5).

Để nhanh chóng chế tạo và cung cấp vũ khí, đạn dược cho quân đội trong cuộc kháng chiến kiến quốc, Trần Đại Nghĩa và các đồng chí, đồng đội đã trải qua những ngày tháng “nằm gai nếm mật”, đối diện với những khó khăn, thử thách, những mối nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng bất cứ lúc nào nếu lỡ có một sai sót nhỏ hoặc một sơ ý, bất cẩn xảy ra. Nhưng với bản lĩnh của một nhà khoa học, niềm tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân; không khí sục sôi của cuộc chiến, những đòi hỏi của thời cuộc, sự hy sinh của đồng chí, đồng đội, đã trở thành động lực lớn để Trần Đại Nghĩa “quên ăn, quên ngủ”, quên những sinh hoạt thường ngày, “lơ đễnh” trong việc gia đình, toàn tâm, toàn trí, dồn mọi sức lực, trí tuệ để sáng tạo vũ khí.

Chuyện kể rằng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một hôm Giáo sư ra suối tắm. Thấy lâu không về, mọi người đổ xô đi tìm, tưởng có chuyện gì không may xảy ra. Đến nơi thấy Giáo sư đang ngồi trên một tảng đá giữa dòng suối, người vẫn còn khô. Hóa ra vì mải mê suy nghĩ phương án làm thuốc súng cháy chậm nên Giáo sư quên cả tắm.

Trần Đại Nghĩa sống rất giản dị, chan hòa, chịu khó, chịu khổ, không khi nào phàn nàn về ăn, mặc. Vì mải tập trung suy nghĩ những vấn đề liên quan đến chế tạo vũ khí nên nhiều khi anh Nghĩa trở nên đãng trí, thậm chí không để ý đến bữa ăn, ăn cho qua chuyện, đi họp thì thường xuyên để quên mũ, nón, đi nhầm giày dép. Có lần chú liên lạc mua cho anh cái mũ khác và phải đề trên đó hàng chữ to cho khỏi lẫn: “Mũ này là của ông Trần Đại Nghĩa”(6).

Năm 1947, Giáo sư Trần Đại Nghĩa gặp và kết hôn với nữ y tá Nguyễn Thị Khánh, người con gái xứ quan họ giàu lòng yêu nước, tích cực tham gia kháng chiến với nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho các thương bệnh binh. Nhớ lại ngày lễ thành hôn tại chiến khu Bắc Kạn, bà kể: Đám cưới tổ chức rất giản dị tại cơ quan. Có ý kiến nói anh Nghĩa nên viết thư mời Bác Hồ và Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đến dự, nhưng anh Nghĩa gạt đi và nói rằng Bác và anh Văn còn bận nhiều việc nước.

Anh em trong cơ quan bắt anh Nghĩa khao. Lúc đó trong túi anh chỉ còn hơn bốn chục đồng đem mua mắc coọc (một loại quả lê) về khao anh em. Bữa đó mỗi người còn góp thêm năm đồng nhờ chị cấp dưỡng nấu bữa cơm liên hoan chung. Khi các cán bộ quân đội mới bắt đầu được hưởng lương, một tháng anh Nghĩa được nhận sáu trăm đồng. Chi phí đại thể như sau: 180 đồng nộp tiền ăn, 20 đồng mua xà phòng, 360 đồng mua thuốc lá (hai tút), còn lại 40 đồng để tiêu vặt (thường dùng mua chuối, bánh ăn thêm cho đỡ đói)(7).

Trong công việc gia đình, bà thường hài hước gọi Giáo sư là ông Nghĩa “lơ đễnh”. Có lần trong ngày nghỉ, ông được bà giao nhiệm vụ trông con. Giáo sư vui vẻ nhận lời và nói bà cứ yên tâm. Khi đi chợ về, bà thấy con mặt mũi lem luốc, quần áo lấm bê bết, đang chơi nghịch một mình, còn ông thì đang mải mê đọc sách. Bị vợ la rầy, ông chỉ cười trừ.

Những câu chuyện đời thường, đáng yêu của Giáo sư lại càng cho thấy niềm đam mê nghiên cứu khoa học, luôn đề cao lợi ích của quốc gia dân tộc và công việc, lợi ích chung của tập thể lên trên hết.

Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho cách mạng và kháng chiến, năm 1948, Giáo sư được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành 1 trong 11 vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và được tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Năm 1952, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất, Giáo sư được phong danh hiệu Anh hùng lao động, và là một trong ba anh hùng lao động đầu tiên của Việt Nam.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 kết thúc chiến tranh, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình, Bắc Nam thống nhất. Trong thời khắc thiêng liêng của lịch sử, vị tướng tài ba, huyền thoại Trần Đại Nghĩa đã ghi vào cuốn sổ tay với dòng chữ: “Nhiệm vụ của Bác giao cho tôi và tập thể các nhà khoa học Việt Nam là tham gia về mặt vũ khí và khoa học quân sự trong hai cuộc kháng chiến đã được hoàn thành. Từ nay đến hàng nghìn năm sau chúng tôi xin bàn giao lại nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ ngày nay và thế hệ mai sau”(8). Cũng vào năm 1975 sau 40 năm xa cách nơi chôn nhau cắt rốn, Giáo sư Trần Đại Nghĩa men theo dòng sông Măng Thít trở về thăm lại quê nhà. Đứng trước phần mộ của ba má, trong dòng nước mắt của sự nhớ thương, biết ơn, kính trọng, ông xúc động thưa: “Con đã về đây, đã làm theo đúng những lời nguyện ước của Ba, Má khi xưa, đã học hành thành đạt và đã cống hiến hết sức mình cho Tổ quốc”(9).

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Giáo sư Trần Đại Nghĩa tiếp tục được Đảng, Nhà nước tin tưởng giao cho phụ trách những nhiệm vụ lớn trong nghiên cứu, xây dựng nền khoa học kỹ thuật nước nhà. Mặc dù giữ những cương vị lớn, xứng đáng được hưởng những chính sách đãi ngộ của Đảng, Nhà nước, nhưng Trần Đại Nghĩa luôn chọn cho mình một lối sống giản dị, khiêm nhường; một phong cách giản dị, mực thước, hòa đồng, luôn quan tâm đến những người xung quanh, nhất là công cuộc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những nhà khoa học trẻ.

Là người hiền lành, từ tốn, suốt ngày trầm tư, yên lặng trong phòng làm việc, cặm cụi bên chồng tài liệu, sách báo với niềm đam mê nghiên cứu khoa học không khi nào ngưng nghỉ, tuy nhiên có một tính cách “không hiền” ở Trần Đại Nghĩa đó là khi ông phát biểu những quan điểm, chính kiến của mình, khi cần bảo vệ những chân lý khoa học. Chuyện kể rằng, khi còn là Chủ nhiệm Ủy ban khoa học nhà nước, có lần bác sĩ Tôn Thất Tùng lo ngại về việc huy động mọi cán bộ phải tham gia đào đất, đắp đê, xây dựng các công trình công ích. Điều này sẽ làm cho các bác sĩ, nhân viên phẫu thuật tay bị chai cứng, ảnh hưởng đến việc mổ xẻ, nếu không tham gia thì bị quy là ngại khó, ngại lao động. Nghe vậy, Giáo sư hoàn toàn đồng cảm, chia sẻ với những tâm tư, băn khoăn đó. “Tôi hoàn toàn nhất trí với anh, cần miễn lao động cho số cán bộ này do đặc thù chuyên môn. Còn chủ trương lao động xã hội chủ nghĩa luôn đúng đắn, vì vậy phải đến báo cáo ngay với anh Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng) mới giải quyết được, kể cả các trường hợp như các nghệ sĩ, nhạc công cũng cần được bảo vệ đôi bàn tay”(10).

Trong khi họp bàn, tham vấn ý kiến về những quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước, bằng tư duy khoa học và tầm nhìn xa, nhạy bén, thức thời, Trần Đại Nghĩa đã đưa ra nhiều quan điểm mang tính phản biện về một số chính sách mà ông cho rằng chưa thực sự hợp lý, như chỉ tiêu về kế hoạch sản xuất thép trong năm năm, theo ông là vượt xa so với năng lực sản xuất và điều kiện thực tiễn của đất nước. Về mức chi ngân sách cho nghiên cứu cơ bản và đầu tư cho lĩnh vực khoa học công nghệ theo ông là còn quá khiêm tốn, thập chí là rất thấp so với mức đầu tư của thế giới. Ông cũng là người rất quan tâm, động viên, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ; thường xuyên trao đổi, truyền đạt những tri thức về khoa học nhằm gây dựng và đào tạo đội ngũ những nhà khoa học kế cận. Ông cũng là người đề xuất sáng kiến phát huy “lòng yêu nước trong xây dựng kinh tế” trong thời kỳ đổi mới để kiến thiết quốc gia ngày càng giàu mạnh, phồn vinh.

Ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao tài năng, đức độ, tư duy và phong cách làm việc khoa học và những cống hiến xuất sắc của Giáo sư Trần Đại Nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngợi ca: “Là một đại trí thức, đi học ở châu Âu đã nhiều năm, mang một lòng nhiệt tình về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến, đó là Anh hùng lao động trí óc Trần Đại Nghĩa. Lúc kỹ sư Nghĩa mới về, Hồ Chủ tịch bảo: “Nước ta thiếu máy móc, thiếu nguyên liệu, thiếu thợ lành nghề. Song giàu về rừng núi, giàu về quyết tâm. Vậy chú phải đưa những cái đã học được ở nước ngoài mà áp dụng vào hoàn cảnh thiết thực ở nước ta, để phụng sự Tổ quốc...”. Kỹ sư Nghĩa vui vẻ trả lời: “Thưa vâng!”.

Từ đó, kỹ sư Nghĩa luôn luôn cố gắng làm đúng lời hứa: Khắc phục mọi khó khăn, đào tạo nhiều cán bộ, đưa những học thức rộng rãi ở châu Âu áp dụng vào điều kiện eo hẹp của nước ta. Đồng chí rất giỏi về khoa học máy, nhưng lúc thực hành thì không “máy móc”. Kỹ sư Nghĩa đã có công to trong việc xây dựng quân giới, luôn luôn gần gũi, giúp đỡ, dạy bảo và học hỏi anh em công nhân, đã thắt chặt lý luận với thực hành”(11).

TS. Nguyễn Huy Phòng

ThS. Lương Quỳnh Hoa

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn