Bài viết

Mũ cối của Đại tá, Anh hùng Trần Hữu Lưu

Tại Bảo tàng Quân khu 4 đang trưng bày một kỷ vật của người lính nhiều năm liền làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn Lào trong kháng chiến. Đó là chiếc mũ cối đã bạc màu bởi trải qua thời gian liên tục dãi nắng dầm mưa, thấm đẫm mồ hôi của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Hữu Lưu - Đội trưởng đội quy tập 584 thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị.

Quảng Trị26/09/2026Phường An Cựu (Đoàn phường An Cựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mũ cối của Đại tá, Anh hùng Trần Hữu Lưu

Tại Bảo tàng Quân khu 4 đang trưng bày một kỷ vật của người lính nhiều năm liền làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hy sinh vì nghĩa vụ quốc tế ở nước bạn Lào trong kháng chiến. Đó là chiếc mũ cối đã bạc màu bởi trải qua thời gian liên tục dãi nắng dầm mưa, thấm đẫm mồ hôi của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Hữu Lưu - Đội trưởng đội quy tập 584 thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị.

Mũ cối của Đại tá, Anh hùng Trần Hữu Lưu

Sinh ra trên tuyến lửa Vĩnh Linh - mảnh đất ác liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tháng 2 năm 1982, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Trần Hữu Lưu tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau khi hoàn thành khoá huấn luyện tân binh, anh được biên chế vào Sư đoàn 968, làm nhiệm vụ quốc tế ở nước bạn Lào. Những năm tháng ấy, khi cùng với đồng đội vượt núi băng rừng hành quân tiễu phỉ, anh đã bị nhiễm chất độc da cam và chất độc này đã khiến cho hai con của anh bị di chứng, tàn tật suốt đời.

Năm 1995, Trần Hữu Lưu về nhận công tác tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị. Tháng 10 tháng 1996, anh được điều động về công tác tại Đội quy tập 584, trên cương vị đội phó, sau đó được bổ nhiệm Đội trưởng với nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ và quân tình nguyện Việt Nam tại địa bàn tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, Lào, cũng như khu vực phía Tây tỉnh Quảng Trị. Anh Lưu tâm sự: “Khi nhận trách nhiệm đội phó đội quy tập hài cốt liệt sĩ, tôi không khỏi băn khoăn, lo lắng vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn. Hiện nay, cả hai con đều bị tàn tật, cháu đầu mất trí nhớ, không đi học được, cháu thứ hai nằm một chỗ, phải có người phục vụ… Nhưng rồi tôi lại nghĩ, biết bao nhiêu đồng chí, đồng đội của mình đã hy sinh, cống hiến trọn đời cho quê hương, đất nước, nay chưa được quy tập về nghĩa trang, về với gia đình. Biết bao người bố, người mẹ đau đáu chờ con trong mỏi mòn khắc khoải... Mình là một cán bộ, đảng viên đã có những tháng năm sống, chiến đấu ở nước bạn, đã phần nào hiểu được những gian khổ, mất mát, hy sinh của những người đồng chí, đồng đội. Đất Lào cũng là nơi mình từng lăn lộn, ăn sương, nằm đất, đã hiểu được một số phong tục tập quán, tiếng của nước bạn, có nhiều thuận lợi hơn những đồng chí khác. Nếu mình không thực hiện công việc này thì ai sẽ làm? Nếu không thực hiện công việc này sẽ là có lỗi với các đồng chí, đồng đội đã khuất...”. Rồi từ câu tự vấn đó, anh đã vượt lên chính mình, vượt lên hoàn cảnh khó khăn của gia đình để quyết tâm nhận nhiệm vụ.

Trở lại chiến trường xưa không phải là những người cầm súng làm nhiệm vụ quốc tế, mà là cùng đồng đội lội suối, băng rừng, vượt ngàn gian khó, nguy hiểm để tìm đồng đội. Đây vừa là trách nhiệm, cũng vừa là nhiệm vụ rất thiêng liêng và cao cả. Việc khảo sát, quy tập hài cốt liệt sĩ trên đất bạn Lào hết sức khó khăn, phức tạp và nặng nề. Chiến tranh đã lùi xa, cùng với sự tác động của thiên nhiên, mưa nguồn, thời gian đã làm địa hình thay đổi, biến dạng, cỏ cây vùi lấp. Hơn nữa, rừng Lào mênh mông, địa bàn tỉnh Xạ Vẳn Na Khệt chủ yếu là rừng rậm chen lẫn rừng tre, nứa. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đây là chiến trường ác liệt, số lượng cán bộ, chiến sĩ của ta hy sinh ở địa bàn này rất lớn. Những phần mộ nằm ở địa bàn dễ đã quy tập về nước, còn lại chủ yếu nằm ở những địa bàn hiểm trở, xa khu dân cư. Những người trực tiếp mai táng, chôn cất liệt sĩ nay đã già yếu, nhiều người đã khuất.

Khó khăn là vậy, nhưng với trách nhiệm của một người cán bộ, đảng viên, anh luôn trăn trở phải làm sao để tìm được các bác, các anh - những người đồng đội đã hy sinh trọn đời mình cho Tổ quốc, cho nhân dân, cho tình đoàn kết quốc tế Việt Nam – Lào - vì nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì thật có lỗi với các anh. Với quyết tâm cao, anh đã nghiên cứu tìm ra nhiều giải pháp và bàn bạc với các đồng chí trong cấp ủy, chi bộ xác định quyết tâm cho cán bộ, chiến sĩ, dù có phải chịu nhiều gian khổ, thậm chí hy sinh đến tính mạng của mình, cũng phải hoàn thành nhiệm vụ. Từ đó, anh tích cực tìm kiếm thông tin từ các cựu chiến binh, từ những người bạn Lào, tìm đến các địa bàn mà trước đây có lực lượng của ta và bạn đóng quân, nhất là các trạm phẫu thuật để xác định vị trí, tiến hành xây dựng kế hoạch, tổ chức khảo sát chu đáo. Trước khi hành quân làm nhiệm vụ, anh tổ chức cho bộ đội học tập chính trị; tổ chức huấn luyện quân sự, xử lý các tình huống không may xảy ra tai nạn và cách bảo vệ hài cốt quy tập được; nắm vững phong tục tập quán và học tiếng nước bạn, vừa dạy cho anh em, vừa tự học, anh đã giao tiếp tiếng Lào như tiếng mẹ đẻ.

Tuy nhiên, khi đi vào công việc cụ thể, anh và đồng đội đã gặp không biết bao nhiêu là khổ cực như: địa hình hiểm trở nên mỗi ngày anh em hành quân chỉ được vài cây số vì vừa đi, vừa phải phát bụi, chặt cây, hay một số địa bàn mùa khô các khe suối đều cạn kiệt nước, anh em phải tìm đến những vũng nước còn sót lại để lấy nước uống... Đã có những lúc không tìm thấy nước, dưới cái nắng như thiêu như đốt, cán bộ, chiến sĩ phải chặt cây rừng lấy nước sinh hoạt, đi bộ suốt cả ngày để lấy nước suối nấu ăn. Mùa mưa thì đối mặt với những cơn mưa triền miên, xối xả, không thể nào mở mắt ra được. Sau trận mưa, tất cả các khe suối đều ngập nước, địa hình bị chia cắt hoàn toàn. Có những lúc lương thực, thực phẩm bị cạn kiệt, cả đội vừa đào củ, lấy rau rừng, măng đắng ăn tạm qua ngày vừa động viên tinh thần chờ nước rút mới tìm đường về. Rồi những trận sốt rét rừng hoành hành, cơ thể mệt nhoài những vẫn phải cố gắng. Một khó khăn không nhỏ nữa, đó là sự chống phá của các lực lượng thù địch, phản động. Năm 2002, tại địa bàn Pha Lu, không muốn cho bộ đội đến quy tập mộ liệt sĩ, các thế lực phản động chống phá đã tuyên tuyền, kích động hăm dọa nhân dân không được cho bộ đội Việt Nam vào bản. Anh đã tổ chức họp Chi bộ để xác định quyết tâm hành động và sau đó phân công trách nhiệm cho từng người trên cương vị là một cán bộ dân vận: Nói ít, làm nhiều, cố gắng tiếp cận với nhân dân tuyên truyền, tổ chức dọn dẹp vệ sinh, tắm rửa, cắt tóc cho các em nhỏ, chăm sóc cho những người ốm đau... Từ đó nhân dân hiểu ra, đã hết lòng giúp đỡ và tham gia quy tập được rất nhiều hài cốt liệt sĩ.

Trong 15 năm tham gia quy tập hài cốt liệt sĩ, Trần Hữu Lưu đã cùng với đồng đội khảo sát, quy tập được 2.168 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 217 hài cốt có tên và quê quán, 210 hài cốt có tên. Anh cũng tích cực phối hợp với các địa phương trong tỉnh, tìm đến những khu vực trọng điểm đánh phá trong những năm chiến tranh như khu vực rừng núi Hướng Hóa, Đakrông, Hải Lăng, Gio Linh... để khảo sát, quy tập, đặc biệt là quy tập các mộ tập thể. Kết quả anh đã phối hợp quy tập được 521 hài cốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quy tập trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, Trần Hữu Lưu còn tích cực phối hợp với Ban quản lý Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9 chăm sóc chu đáo các phần mộ liệt sĩ ở nghĩa trang.

Cùng với việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ, anh còn lãnh đạo đơn vị làm tốt công tác dân vận, khơi dậy nghĩa tình keo sơn gắn bó của hai dân tộc được nhân dân nước bạn yêu mến và hết lòng giúp đỡ. Nhiều cụ già 60-70 tuổi đã tình nguyện đi bộ hàng chục cây số để chỉ đường đến nơi có hài cốt; có nhà sư đã tình nguyện dẫn đường để cán bộ, chiến sĩ đưa hài cốt về nơi an toàn... Đặc biệt, anh đã vận động cán bộ, chiến sĩ giúp đỡ bà con, đồng bào dân tộc Lào anh em, sửa chữa, làm mới hàng chục kilômét đường; dựng mới 69 ngôi nhà, tu sửa 125 ngôi nhà cho các đối tượng chính sách gặp hoàn cảnh khó khăn; giúp dân phát 58 hécta rẫy; gặt 27 hécta lúa; khám cấp thuốc miễn phí cho hàng ngàn lượt người dân, cứu sống hàng trăm người dân bị bệnh trong cơn nguy kịch; cứu đói cho người dân nước bạn trên 2 tấn gạo, 6 tấn muối. Nghĩa cử và việc làm đó đã làm sáng lên tình nghĩa keo sơn gắn bó, tinh thần đoàn kết của hai nước Việt – Lào anh em.

Với những thành tích trên, Trần Hữu Lưu nhiều năm liên tục được công nhận Chiến sĩ thi đua, 9 lần được tặng bằng khen, trong đó có Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; được Đảng, Nhà nước tặng thưởng hai Huân chương Chiến công hạng nhất, một Huân chương Quân công hạng Ba và được nước bạn Lào tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, được Ủy ban tỉnh Sa Vẳn Na Khẹt tặng bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ và những chuyên gia Việt Nam ở Lào về nước. Năm 2010, Trần Hữu Lưu được bầu chọn là cá nhân tiêu biểu dự Đại hội thi đua toàn quốc. Năm 2011, anh được phong quân hàm Đại tá; được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Trao lại chiếc mũ cối cho cán bộ bảo tàng, anh cười chia sẻ: “Nó gắn bó bất ly thân với tôi đã nhiều năm, nhìn thế mà hữu ích với anh em quy tập giữa thiên nhiên khắc nghiệt của núi rừng Trường Sơn, trên đất bạn Lào lắm đấy, có lần cứu khát cho anh em chúng tôi khi phải tìm kiếm mộ liệt sĩ xa trung tâm, dân bản, nó trở thành dụng cụ hứng nước phục vụ sinh hoạt, chậu rửa mặt, đựng cơm, canh, giúp chúng tôi vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

Chiếc mũ cối có số đăng ký BTQK4-1923AB/Gi361 của Anh hùng Trần Hữu Lưu được Bảo tàng Quân khu 4 trưng bày và giới thiệu khách tham quan, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước và tô thắm đạo lý‎ “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, làm sáng lên tình nghĩa keo sơn gắn bó, tinh thần đoàn kết của hai nước Việt - Lào anh em trong điều kiện mới, nhiệm vụ mới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mũ cối của Đại tá, Anh hùng Trần Hữu Lưu | Câu chuyện thời hoa lửa