Cựu chiến binh

Mùa đỏ lửa trên vùng cao Ma Nới - PX Thắng

Khánh Hòa06/06/2026Lê Thị Hồng Gấm (trường TH Ma Nới)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

MÙA ĐỎ LỬA TRÊN VÙNG CAO MA NỚI

Tháng Bảy, nắng trên đỉnh núi Ma Nới đổ xuống như rót mật, vàng óng nhưng cũng đầy khắc nghiệt. Ngồi đối diện với bác Pa Xây Thắng – một cựu chiến binh hiền hậu của thôn Gia Rót – tôi như được ngược dòng thời gian, trở về những năm tháng hào hùng mà cũng đầy máu lửa của một thời tuổi trẻ chưa bao giờ phai nhạt trong lòng bác.

Bác Thắng sinh năm 1934, lớn lên giữa những năm tháng đất nước chìm trong khói đạn. Ma Nới ngày ấy, trong ký ức của bác, không chỉ là những cánh rừng xanh thẳm đại ngàn mà là căn cứ địa kiên cường, nơi thấm đẫm mồ hôi và cả máu của biết bao anh hùng. Năm 1960, đáp lại tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, bác đã gác lại cuộc sống bình lặng, hăng hái lên đường nhập ngũ vào Bộ đội C82, huyện Anh Dũng.

Trong tâm trí người cựu chiến binh già, khoảng thời gian từ năm 1961 đến 1966 tại đơn vị C80 là những ngày tháng ác liệt nhất. Ma Nới khi ấy là vùng "đỏ lửa" đúng nghĩa. Mỗi tấc đất, mỗi con dốc đều ghi dấu những cuộc đối đầu không cân sức giữa quân dân ta và kẻ thù. Bác bồi hồi kể lại: "Có những đêm, ánh lửa từ các đồn bốt địch soi sáng cả một góc trời, tưởng chừng như thiêu rụi cả núi rừng, nhưng tinh thần của những chiến sĩ C80 chúng tôi chưa bao giờ tắt". Bác nhớ như in những buổi hành quân xuyên đêm dưới mưa rừng, cái lạnh thấu xương của núi cao quyện chặt cùng hơi thở dồn dập khi tiếp cận căn cứ địch. Mỗi trận đánh là một lần sinh tử, nơi lòng dũng cảm được tôi luyện qua khói lửa, nơi tình đồng chí đồng đội trở thành sợi dây gắn kết bền chặt nhất trước họng súng quân thù. Bác kể về những bữa cơm vắt chỉ có muối ớt, những đêm nằm rừng sốt rét, nhưng nụ cười vẫn nở trên môi anh em chiến sĩ khi nghe tin thắng trận. Sự khốc liệt của chiến trường không làm chùn bước chân người chiến sĩ, mà ngược lại, đó là lò luyện thép tôi rèn nên ý chí sắt đá của những người con ưu tú của quê hương.

Rời quân ngũ năm 1966, bác Thắng không chọn cho mình một cuộc sống an nhàn. Bác tiếp tục bám trụ địa phương trong đội du kích tập trung, rồi sau đó là lực lượng công an xã từ năm 1968 đến 1976. Mỗi cương vị là một lần bác chứng kiến sự hy sinh lặng thầm của người dân Ma Nới – những con người kiên trung đã nhường cơm sẻ áo, làm lá chắn thép cho bộ đội trong suốt những năm tháng gian khổ nhất. Những người mẹ, người chị Ma Nới dù bom đạn bủa vây vẫn bám nương bám rẫy, âm thầm tiếp lương tải đạn, nuôi dưỡng những chiến sĩ như bác Thắng trong vòng tay chở che. Kỷ niệm về những ngày tháng đó luôn sống động trong tâm trí bác, là minh chứng cho sự đoàn kết máu thịt giữa lòng dân và ý Đảng, giữa quân và dân như cá với nước.

Khi kể về những thành tích đã đạt được sau thời chiến, bác Thắng cười hiền, đôi mắt ánh lên niềm tự hào xen lẫn sự khiêm nhường. Bác chỉ vào khung kính treo trang trọng trên tường, nơi lưu giữ những minh chứng cho một thời cống hiến: "Đó không chỉ là tấm Huy chương Kháng chiến hạng Nhất của Chủ tịch nước tặng năm 1994, mà là kỷ niệm về đồng đội tôi đã nằm lại nơi chiến trường". Bên cạnh đó là Bằng khen của UBND tỉnh Ninh Thuận trao tặng năm 2012 với danh hiệu "Người có công tiêu biểu", cùng những Giấy khen của huyện Ninh Sơn và xã Ma Nới về thành tích trong lao động sản xuất và phong trào "Cựu chiến binh gương mẫu". Bác chia sẻ: "Được Đảng và Nhà nước ghi nhận, tôi vui lắm. Nhưng hạnh phúc hơn cả là thấy mảnh đất Ma Nới hôm nay đổi thay, đường sá khang trang, trẻ em được đến trường. Đó mới là phần thưởng lớn nhất của người lính".

Không chỉ kể bằng lời, bác Thắng cẩn thận lấy ra một cuốn album cũ kỹ, phủ đầy bụi thời gian. Bác lật từng trang, dừng lại lâu hơn ở những tấm ảnh đen trắng chụp cùng đồng đội năm xưa, rồi lại khoe những bức hình chụp trong dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, nơi bác đứng nghiêm trang trong bộ quân phục cũ, ngực lấp lánh huân huy chương. "Ảnh này chụp tôi thời còn trẻ, còn ảnh này là lúc tôi nhận bằng khen đó," bác hào hứng giải thích. Mỗi bức ảnh là một câu chuyện, một mảnh ghép cuộc đời mà bác đã giữ gìn như báu vật, bởi với bác, đó không chỉ là tư liệu, mà là minh chứng sống động nhất cho một thời oanh liệt không bao giờ phai nhạt.

Khi hòa bình trọn vẹn năm 1976, bác Thắng trở về với ruộng đồng, chọn làm một người nông dân lương thiện tại thôn Gia Rót. Những vết sẹo trên cơ thể bác – dấu tích của những lần vào sinh ra tử – nay đã dịu lại cùng những mùa lúa chín vàng óng trên nương. Mỗi khi nhìn những đứa trẻ thơ ngây tại trường Tiểu học Ma Nới hôm nay cắp sách đến trường, bác cười hiền hậu: "Sự hy sinh ngày ấy, chẳng phải chính là để đổi lấy nụ cười của các cháu hôm nay hay sao?".

Câu chuyện của bác Pa Xây Thắng không chỉ là lịch sử của riêng một con người, mà là bản hùng ca của cả vùng đất Ma Nới kiên cường. "Mùa đỏ lửa" năm nào nay đã lùi xa, nhường chỗ cho những mùa tri thức mới. Tinh thần của người lính già như bác sẽ mãi mãi là ngọn lửa thiêng rực cháy, truyền dạy cho thế hệ mai sau bài học về lòng yêu nước, về sự hy sinh cao cả và về khát vọng hòa bình mà bao thế hệ cha anh đã đánh đổi để có được. Chúng tôi, thế hệ trẻ hôm nay, khi đứng dưới mái trường này, càng thêm trân trọng những giá trị lịch sử, thêm yêu quê hương Ma Nới và nguyện cống hiến để làm rạng danh vùng đất anh hùng. Sự tiếp nối của truyền thống cách mạng qua câu chuyện của bác Thắng không chỉ là quá khứ, mà còn là động lực để chúng tôi – những giáo viên và học sinh – nỗ lực hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn