Bài viết

Mùa hè trong Thành cổ (Nhật ký chiến sĩ Quảng Trị – 1972). c1

Mùa hè trong Thành cổ (Nhật ký chiến sĩ Quảng Trị – 1972)

Quảng Trị19/01/2026Phạm Ngọc Tân3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi vào chiến trường Trị – Thiên đầu tháng 6 năm 1972, khi Quảng Trị vừa được giải phóng ngày 1 tháng 5 năm 1972. Khi ấy tôi là chiến sĩ bộ binh thuộc một đơn vị chủ lực, hai mươi tuổi tròn, quê Nghệ An. Chúng tôi được lệnh cơ động về khu vực Thành cổ Quảng Trị, chuẩn bị giữ vững địa bàn trong tình huống địch phản kích lớn. Lúc đó, tôi chưa thể hình dung được rằng, mảnh đất nhỏ bé ấy sẽ trở thành nơi thử thách khắc nghiệt nhất của đời lính.

Ngày 28 tháng 6 năm 1972, địch bắt đầu mở các đợt phản công quy mô lớn nhằm tái chiếm thị xã Quảng Trị. Từ sáng sớm, pháo bắn dồn dập vào khu vực Thành cổ và sông Thạch Hãn. Đất rung lên không ngừng, bầu trời như bị xé nhỏ bởi tiếng máy bay. Chúng tôi trú trong các công sự tạm, vừa chống đỡ, vừa giữ vững đội hình. Lệnh rất rõ ràng: bằng mọi giá phải giữ Thành cổ.

Những ngày đầu tháng 7 năm 1972, chiến sự ngày càng ác liệt. Ban ngày, bom pháo dội xuống liên hồi; ban đêm, chúng tôi tranh thủ củng cố trận địa, tiếp tế đạn dược, đưa thương binh ra tuyến sau. Thành cổ khi ấy không còn dáng vẻ của một di tích cổ kính, mà là một chiến trường chằng chịt hố bom, hào giao thông và công sự dã chiến. Mỗi mét đất đều được giữ bằng ý chí và sự kiên cường của người lính.

Tôi nhớ nhất đêm 15 tháng 7 năm 1972, đơn vị tôi được lệnh tăng cường chốt giữ một góc Thành cổ gần bờ sông. Mưa nặng hạt, nước ngập đến mắt cá chân. Chúng tôi thay nhau canh gác, mắt căng ra trong bóng tối. Khi địch tiến công, mọi thứ diễn ra trong tích tắc. Không ai kịp nghĩ nhiều, chỉ biết giữ vững vị trí, bảo vệ đồng đội bên cạnh. Sau trận ấy, tiểu đội tôi vắng đi mấy gương mặt quen thuộc. Chúng tôi lặng lẽ gọi tên nhau trong đêm, để biết ai còn, ai đã nằm lại.

Tháng 8 năm 1972, Thành cổ gần như ngày nào cũng bị đánh phá. Có những hôm, tôi không phân biệt nổi ngày hay đêm, chỉ biết hết tiếng pháo là tranh thủ đào thêm công sự, chia nhau từng ngụm nước hiếm hoi. Dù gian khổ, nhưng chưa bao giờ tôi thấy tinh thần anh em nao núng. Chúng tôi hiểu rằng, mỗi ngày trụ lại ở Thành cổ là thêm một ngày có lợi cho ta trên bàn đàm phán Paris.

Đến ngày 16 tháng 9 năm 1972, sau 81 ngày đêm chiến đấu, đơn vị tôi nhận lệnh rút khỏi Thành cổ, chuyển sang giữ các tuyến phòng ngự khác. Đêm rút quân, tôi ngoái lại nhìn Thành cổ lần cuối. Trong màn mưa lặng lẽ, những bức tường đổ nát đứng im như chứng nhân của một mùa hè không thể quên. Tôi biết, nơi ấy đã giữ lại rất nhiều đồng đội của tôi, những người mãi mãi ở tuổi đôi mươi.

Nhiều năm sau, khi trở lại Quảng Trị trong hòa bình, tôi đứng trước Thành cổ đã được tu bổ. Gió sông Thạch Hãn thổi nhẹ, không còn tiếng pháo, không còn mệnh lệnh dồn dập. Tôi thầm nghĩ, 81 ngày đêm năm 1972 không chỉ là một trận đánh, mà là biểu tượng của ý chí con người Việt Nam: sẵn sàng chịu đựng, kiên cường đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Với tôi, Thành cổ Quảng Trị không chỉ nằm trong sách sử, mà còn nằm trong ký ức, nơi tuổi trẻ của một thế hệ đã hóa thành bất tử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn