MÙA HOA TRI THỨC TRÊN ĐẤT PALEI – BƯỚC NHẢY VỌT GIÁO DỤC VÙNG ĐỒNG BÀO CHĂM NINH PHƯỚC (1978 – 1986) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN
từng nhìn thấy ngọn cờ chiến thắng cắm trên sân bay Thành Sơn, từng chứng kiến máy cày rẽ đất chia ruộng cho dân cày... nhưng khoảnh khắc nhìn thấy những đứa trẻ Chăm cắp sách tinh tươm ríu rít đến trường cấp III, lòng tôi trào dâng một niềm xúc động thiêng liêng khó tả.
Sau đòn mở màn đầy nhiệt huyết năm 1976 với 262 thầy cô giáo người Chăm đầu tiên đứng lớp, phong trào "diệt giặc dốt" không dừng lại ở mức biết đọc con chữ, biết ký tên mình. Chúng tôi hiểu rằng: muốn người dân làm chủ hợp tác xã, muốn các palei Chăm thực sự thoát nghèo bền vững thì giáo dục phải đi trước một bước, phải đào tạo nên những kỹ sư, bác sĩ, nhà giáo tương lai từ chính dòng máu của quê hương tháp cổ.
1. Năm 1978: Chiến dịch toàn dân học tập và mốc son 8.650 người thoát mù chữ
Bước sang năm 1978, phong trào học tập tại huyện An Sơn đã trở thành một cao trào quần chúng sôi nổi chưa từng thấy:
Tiếng kẻng học bài sau giờ lao động:
Sau ngày công vất vả nạo vét Kênh Nam, Kênh Chàm, khi ánh hoàng hôn vừa tắt, tiếng kẻng báo hiệu giờ học lại vang lên rộn rã khắp xóm làng Kinh – Chăm.
Các lớp học được dựng lên khắp nơi: từ trụ sở hợp tác xã, đình làng, sân kho đến hiên nhà các vị chức sắc tôn giáo. Bất kể già trẻ, gái trai, người Kinh hay người Chăm, ai chưa biết chữ đều tự giác cắp vở đi học dưới ánh đèn măng-sông, đèn dầu le lói.
Thành quả rực rỡ năm 1978:
Đến cuối năm 1978, toàn huyện đã thanh toán nạn mù chữ cho 8.650 người (đạt 82% kế hoạch do tỉnh và huyện đề ra).
Không dừng lại ở việc đọc thông viết thạo, huyện đã nhanh chóng mở các lớp bổ túc văn hóa, phổ cập giáo dục cấp II cho 3.400 người. Đây là lực lượng cán bộ chủ chốt của 40 HTX, 70 tập đoàn sản xuất, các đội trưởng sản xuất và cán bộ thôn ấp vùng Chăm; họ học chữ để biết ghi chép sổ sách kế toán, phân công ngày công và tính toán lượng thóc giống, phân bón khoa học.
2. Năm 1986: Mùa quả ngọt sau mười năm – Con em Chăm vững bước đến trường
Mười năm sau ngày quê hương sạch bóng quân thù, thành quả của công tác giáo dục tại các làng Chăm như Hữu Đức, Hậu Sanh, Văn Lâm, Chất Thường, Phước Đồng... đã tạo nên một sự đổi thay kỳ diệu về chất:
Tăng trưởng vượt bậc gấp 4 – 5 lần:
Nếu như năm 1976, việc vận động một đứa trẻ Chăm đến trường lớp là muôn vàn khó khăn do rào cản ngôn ngữ, hủ tục và cái đói sau chiến tranh; thì đến năm 1986, số lượng con em đồng bào Chăm đến trường đã tăng gấp 4 đến 5 lần.
Trường học ngói đỏ tươi khang trang mọc lên ngay giữa các buôn làng, thay thế hoàn toàn cho các đồn bót, bót gác kìm kẹp xưa kia.
Bức tranh giáo dục toàn diện ở mọi lứa tuổi:
Bậc mầm non, mẫu giáo: Có tới 700 cháu nhỏ được chăm sóc, nuôi dạy tại các lớp mẫu giáo do hợp tác xã trích quỹ phúc lợi xây dựng, giúp các bà mẹ Chăm yên tâm ra đồng thâm canh lúa khoán.
Bậc phổ thông cơ sở: Lực lượng đông đảo với 4.815 học sinh cấp I và 1.102 học sinh cấp II. Tiếng đọc bài ê a, vang vọng qua rặng me già mỗi sớm mai đã trở thành thanh âm quen thuộc, xua tan đi sự hoang tàn của những năm tháng khói lửa.
Đỉnh cao cấp III: Điểm sáng tự hào nhất là có tới 196 con em người Chăm theo học tại các trường trung học phổ thông (cấp III) của huyện và tỉnh. Đây là con số kỳ tích mà dưới thời thực dân phong kiến hay chế độ cũ, người dân Chăm nghèo dù có nằm mơ cũng không bao giờ dám nghĩ tới.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ
Nhìn lại chặng đường 1978 – 1986 trên mặt trận giáo dục quê hương, người cộng sản tiền bối Trần Thi luôn khẳng định:
Đó là bản trường ca về sự giải phóng trí tuệ và bình đẳng dân tộc đích thực:
Chiến thắng vĩ đại nhất của hòa bình: Chúng ta đã chiến thắng giặc ngoại xâm bằng súng đạn, nhưng chính chiến thắng giặc dốt mới bảo vệ và nhân lên giá trị của nền độc lập. Gần 5.000 học sinh cấp I, hơn 1.000 học sinh cấp II và gần 200 học sinh cấp III người Chăm năm 1986 chính là thế hệ rường cột, là những người con ưu tú sau này trở thành cán bộ lãnh đạo, thầy cô giáo, kỹ sư đưa Ninh Phước vững bước vào thời kỳ Đổi mới và công nghiệp hóa.
Khẳng định tính ưu việt của ngọn cờ cách mạng: Thực dân đế quốc coi thường, kìm hãm đồng bào trong tăm tối để dễ bề cai trị; còn Đảng ta mang ánh sáng văn hóa, trường lớp về tận buôn làng, nâng niu từng mầm non tri thức.
Màu khăn thêu thổ cẩm Chăm hòa cùng màu khăn quàng đỏ tung bay trên sân trường năm 1986 mãi mãi là minh chứng rực rỡ nhất cho chân lý: Đảng vì Dân, ánh sáng chữ Bác Hồ soi đường cho khối đại đoàn kết Kinh – Chăm đời đời bền vững.


