Cựu Thanh niên xung phong

MÙA LỬA TUỔI HAI MƯƠI TÁM

Bác Trần Văn Ký, quê ở ấp Phước Yên A, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, là một trong những người con ưu tú của vùng đất hiền hòa mà kiên cường. Là cựu thanh niên xung phong, bác đã dành trọn tuổi xuân của mình để cống hiến cho Tổ quốc trong những năm tháng gian lao của dân tộc. Cuộc đời và hành trình của bác gắn liền với một giai đoạn lịch sử hào hùng, khi cả dân tộc đồng lòng đứng lên bảo vệ non sông, và lớp thanh niên thời ấy đã coi lý tưởng phụng sự đất nước là lẽ sống thiêng liêng

Vĩnh Long09/06/2026BCH LCĐ Khoa Khoa học và sức khỏe - Trường Đại học Cửu Long (Đoàn Trường Đại học Cửu Long)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiều muộn, dòng kênh trước nhà ông Trần Văn Ký lặng lẽ chảy dưới ánh nắng cuối ngày. Những cánh lục bình trôi chậm giữa màu nước phù sa như mang theo ký ức của một thời đã rất xa.

Ông ngồi trước hiên nhà, đôi mắt đục màu năm tháng nhìn xa xăm về phía cánh đồng. Mái tóc bạc trắng khẽ lay động trong gió chiều. Ít ai biết rằng người đàn ông gầy gò ấy đã từng đi qua chiến tranh bằng cả tuổi trẻ và máu xương của mình.

Ông từng là một thanh niên xung phong.

Một người lính không mang quân hàm nhưng đã sống những tháng ngày giữa lằn ranh của sự sống và cái chết.

Năm ấy, đất nước vẫn chìm trong bom đạn.

Khói lửa chiến tranh phủ kín những cánh đồng miền Tây. Tiếng máy bay gầm rú mỗi đêm khiến người dân sống trong thấp thỏm và lo âu.

Trần Văn Ký khi ấy vừa tròn hai mươi tám tuổi.

Ở cái tuổi mà nhiều người đã yên ổn với gia đình nhỏ của mình, ông lại chọn khoác ba lô lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc.

Ngày ông đi, mẹ ông đứng bên mé sông mà khóc.

Bà nắm chặt tay con trai:
“Đi rồi nhớ ráng sống mà trở về nghe con…”

Ông cúi đầu thật lâu.

Rồi lặng lẽ quay đi.

Ông sợ nếu nhìn lại sẽ không đủ can đảm để bước tiếp.

Con đường đất dẫn ra đầu làng hôm ấy phủ đầy bụi đỏ. Sau lưng ông là quê hương Phú Quới yên bình với mái nhà tranh nhỏ bé, với dòng kênh tuổi thơ và tiếng gọi nghẹn ngào của mẹ già.

Phía trước là chiến tranh.

Năm 1978, Tiểu đoàn 1 mang tên Nguyễn Văn Tiên được thành lập, sau đổi tên thành Tiểu đoàn D1. Trong hàng ngũ thanh niên xung phong ngày ấy có chàng trai Trần Văn Ký của quê hương Long Hồ.

Họ là những người trẻ mang trong tim niềm tin mãnh liệt:
“Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên.”

Những ngày đầu, ông được điều về vùng Thường Phước của Đồng Tháp.

Nơi ấy nắng cháy như thiêu đốt da người.

Mùa mưa thì nước ngập trắng đồng.

Ban ngày, ông cùng đồng đội mở đường, đắp đê, vận chuyển lương thực và dựng căn cứ giữa vùng chiến sự.

Ban đêm, cả đơn vị thay nhau canh gác.

Không ai biết bom đạn sẽ rơi xuống lúc nào.

Có lần, khi đơn vị đang vận chuyển hàng tiếp tế, tiếng máy bay bất ngờ vang lên xé toạc bầu trời.

“Máy bay!”

Tiếng hô vang giữa cánh rừng.

Mọi người lập tức nằm rạp xuống đất.

Bom nổ dữ dội.

Mặt đất rung chuyển như muốn vỡ tung.

Khói bụi phủ kín cả khu rừng.

Ký cảm thấy lồng ngực đau nhói vì sức ép. Đất đá văng trúng vai khiến máu thấm đỏ cả chiếc áo xanh thanh niên xung phong.

Nhưng khi tiếng bom vừa dứt, điều đầu tiên ông nghĩ tới không phải bản thân mình.

“Anh em đâu rồi?”

Ông gượng dậy giữa khói bụi, chạy đi tìm đồng đội.

Một người bị thương ở chân.

Một người khác bất tỉnh vì sức ép.

Không ai bỏ ai lại phía sau.

Họ dìu nhau đứng dậy rồi tiếp tục lên đường.

Giữa chiến tranh, tình đồng đội chính là thứ giúp họ mạnh mẽ hơn cả nỗi sợ cái chết.

Những năm tháng ấy, rừng già trở thành ngôi nhà thứ hai của họ.

Đêm xuống, cả đơn vị mắc võng ngủ giữa tiếng côn trùng và mùi ẩm lạnh của đất rừng.

Muỗi bay dày đặc như khói.

Nhiều người lên cơn sốt rét run bần bật nhưng vẫn cắn răng chịu đựng.

Có những hôm hành quân suốt mấy ngày liền, lương thực cạn sạch. Mỗi người chỉ còn một ít gạo rang chia nhau cầm bụng.

Nhưng không ai than vãn.

Bởi trong tim họ chỉ có một niềm tin:
“Rồi đất nước sẽ hòa bình.”

Tháng 7 năm 1979, Trần Văn Ký tiếp tục được điều động sang chiến trường Campuchia tham gia chiến dịch giải phóng Prey Veng.

Nơi đất khách, cuộc sống còn khắc nghiệt hơn gấp nhiều lần.

Rừng sâu.

Bệnh tật.

Thiếu thuốc men.

Có những đêm, ông nằm giữa cơn sốt mê man mà vẫn nghe tiếng súng vọng về từ phía xa.

Người đồng đội thân thiết nhất của ông là Ba Lành.

Hai người từng chia nhau từng bi đông nước, từng miếng lương khô giữa những ngày đói khát.

Một buổi chiều sau trận phục kích, Ba Lành bị thương rất nặng.

Máu thấm đỏ cả mảnh đất dưới chân.

Ký ôm chặt lấy bạn mình.

Ba Lành thở dốc, đôi mắt đã bắt đầu mờ đi:
“Nếu tao không về… nhớ ghé thăm má tao…”

Ký siết chặt tay bạn.

Nhưng bàn tay ấy lạnh dần.

Mãi mãi.

Hôm ấy, giữa cánh rừng Prey Veng, lần đầu tiên ông bật khóc như một đứa trẻ.

Tết năm 1979, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông trở về quê hương.

Con đường làng vẫn còn đó.

Dòng kênh vẫn lặng lẽ chảy qua xóm nhỏ.

Chỉ có mẹ ông là già đi rất nhiều.

Bà đứng lặng trước sân khi thấy con trai trở về trong bộ quân phục bạc màu.

Rồi bật khóc.

Ông hiểu…

Mình may mắn hơn rất nhiều người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường.

Nhưng chiến tranh kết thúc không có nghĩa là gian khổ chấm dứt.

Quê hương ngày ấy còn nghèo xác xơ.

Ruộng đồng hoang hóa.

Nhà cửa tiêu điều.

Ông lại tiếp tục lao vào công việc.

Không còn cầm súng, ông cầm cuốc.

Không còn hành quân, ông cùng bà con khai hoang ruộng đất, dựng lại cuộc sống sau chiến tranh.

Sau năm 1981, khi đơn vị giải thể, ông trở về hẳn với cuộc sống đời thường.

Nhưng tinh thần thanh niên xung phong chưa bao giờ rời khỏi con người ấy.

Khi Nghị quyết 62 được ban hành, ông cùng những người đồng đội cũ đi tìm hài cốt của những người đã hy sinh năm xưa.

Mỗi lần đứng trước phần mộ đồng đội, ông lại lặng người rất lâu.

Có những cái tên đã bị thời gian phủ mờ.

Nhưng trong ký ức ông, họ vẫn còn sống mãi ở tuổi đôi mươi.

Chiều dần tắt bên hiên nhà nhỏ.

Ông Trần Văn Ký ngồi lặng nhìn dòng kênh trước mặt rồi khẽ nói:
“Tuổi trẻ của tụi bác đã dành hết cho đất nước… giờ chỉ mong con cháu sống tử tế và biết quý trọng hòa bình.”

Giọng ông trầm xuống:
“Tôi chỉ mong một ngày nào đó gặp lại hết anh em năm xưa…”

Ước mong ấy khiến lòng người nghe nghẹn lại.

Bởi chiến tranh đã qua rất lâu.

Nhưng có những ký ức sẽ theo con người ta suốt cả cuộc đời.

Và cũng có những con người như ông Trần Văn Ký – bình dị, âm thầm – đã trở thành một phần của lịch sử bằng chính tuổi trẻ và lòng yêu nước không bao giờ tắt của mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn