MÙA THU ĐỘC LẬP VÀ 9 THÁNG GIAN LAO XÂY ĐẮP CHÍNH QUYỀN CÔNG BỘC (8/1945 – 5/1946)- ĐỒNG CHÍ TRẦN THI
Trong tâm khảm của người cộng sản tiền bối Trần Thi, giành được chính quyền trong ngày 22/8/1945 rực lửa đã khó, nhưng giữ vững và bồi đắp được chính quyền ấy giữa muôn trùng vây hãm của giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm trong 9 tháng đầu độc lập lại là một kỳ tích phi thường.
Đó là những tháng ngày mà mỗi cán bộ, đảng viên không hề có lương bổng, ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, thức trắng đêm cùng dân đắp bờ mương, luyện tập gậy tầm vông và chắt chiu từng mâm thau, hoa tai vàng để đúc nên từng viên đạn bảo vệ nền non trẻ của Tổ quốc.
1. Đặt nền móng bộ máy và sự ra đời của huyện Ninh Hải Thượng (02/1946)
Ngay sau ngày khởi nghĩa thắng lợi, bộ máy chính quyền của nhân dân nhanh chóng phủ kín khắp các thôn xóm:
Chính quyền cách mạng cấp cơ sở:
Tổng Vạn Phước do đồng chí Mai Mạnh làm Chủ tịch, tổng Phú Quý do đồng chí Nguyễn Ngọc Lân đứng đầu, và huyện An Phước do ông Trượng Phú Khánh – nhân sĩ ưu tú người Chăm đảm nhiệm.
Đến ngày 25/8/1945, đoàn cán bộ của Tỉnh đã trực tiếp về tận địa phương, chỉ đạo hoàn tất việc thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời ở 100% các làng.
Sang tháng 9/1945, hệ thống Mặt trận Việt Minh cùng các đoàn thể nòng cốt như Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc chính thức đi vào hoạt động quy củ, tập hợp đông đảo quần chúng từ bờ ruộng vào tổ chức.
Dấu mốc thành lập huyện Ninh Hải Thượng (02/1946): Để đáp ứng yêu cầu kháng chiến và kiến quốc ngày càng cấp bách, tháng 2/1946, cấp trên quyết định kiện toàn địa giới hành chính: địa bàn huyện An Phước hợp nhất trong tổ chức huyện Ninh Hải Thượng.
Đồng chí Mai Mạnh được chỉ định giữ trọng trách Bí thư Huyện ủy.
Đồng chí Trần Hiếm được bầu làm Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện.
Bộ máy lãnh đạo mới là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những hạt giống đỏ trung kiên thời kỳ 1930 – 1940 và các cán bộ chỉ huy thực tiễn dạn dày kinh nghiệm.
2. Ngọn đuốc soi đường: Lời Bác dạy về đạo lý "Làm công bộc của dân"
Vào cuối năm 1945, khi bộ máy chính quyền non trẻ vừa vận hành, một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng đã diễn ra từ huyện xuống tận các thôn làng:
Bức thư lịch sử của Hồ Chủ tịch: Toàn thể cán bộ các cấp được tổ chức học tập bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cán bộ các tỉnh, huyện, xã, làng.
Lời răn dạy khắc cốt ghi tâm: Lời Bác mộc mạc mà đanh thép:
"Ủy ban nhân dân là công bộc của dân, chứ không phải là nơi để đè đầu cưỡi cổ dân... Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh."
Từng lời dạy như gột rửa tư tưởng quan cách mạng, hách dịch của chế độ thực dân phong kiến cũ. Đội ngũ cán bộ mới – phần lớn là con em nông dân, thợ thủ công nghèo Kinh – Chăm – đã thấm nhuần sâu sắc tinh thần tận tụy phục vụ, ăn cùng bữa cơm dân, lắng nghe tiếng lòng dân, tạo nên sự tin yêu, gắn bó máu thịt tuyệt đối giữa Đảng, chính quyền và quần chúng.
3. "Tuần lễ vàng" và những tấm lòng vàng tạc vào lịch sử
Hưởng ứng Lời kêu gọi thi đua ái quốc và phong trào "Tuần lễ vàng", Quỹ Độc lập do Trung ương phát động, một làn sóng quyên góp chưa từng có đã bùng nổ khắp các nẻo đường làng quê:
Không phân biệt lương giáo, dân tộc: Nhân dân các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, đồng bào Công giáo, Phật giáo, tín đồ Bàlamôn, Bàni đều dốc lòng dốc sức gom góp tiền bạc, mâm thau, nồi đồng, lư hương cổ để ủng hộ kháng chiến và đưa vào lò đúc vũ khí.
Những nghĩa cử bất tử:
Chị Huỳnh Thị Nhi (Phú Quý): Người phụ nữ thuần hậu đã tháo toàn bộ số nữ trang vàng bạc hồi môn quý giá nhất của đời mình trao trọn vẹn cho cán bộ Việt Minh với lời nhắn gửi: "Nước mất thì nhà tan, giữ vàng làm chi khi Tổ quốc cần đạn súng!".
Thầy Ba Trừu (làng Đá Trắng): Dành trọn vẹn cả đàn trâu bò – gia tài tích cóp cả đời của gia đình – tình nguyện dắt ra nộp cho chính quyền để sung công quỹ tiếp tế cho bộ đội.
Ông Nguyễn Chân (làng Vạn Phước): Tự nguyện ủng hộ ngay 100 giạ lúa cứu đói và hiến trọn khoảnh đất gieo được tới 25 giạ lúa giống cho chính quyền cách mạng tổ chức tăng gia sản xuất.
4. Xóa tệ nạn cũ, mở lối sống mới và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Song song với nhiệm vụ chính trị, chính quyền cách mạng đã lập tức ra tay dọn dẹp những ung nhọt xã hội do chế độ thực dân để lại:
Đẩy lùi tệ nạn xã hội: Các sòng bạc ngầm, lò nấu rượu lậu, nạn trộm cắp vặt và các hủ tục bói toán, mê tín dị đoan từng bước bị xóa sạch khỏi các thôn làng. An ninh trật tự, bình yên làng xóm được các tổ tuần tra tự vệ bảo đảm ngày đêm.
Bình dân học vụ và tiếng hát cách mạng: Các lớp học xóa mù chữ đỏ lửa dưới ánh đèn dầu mỗi tối, trẻ con và người già nắm tay nhau đánh vần chữ Quốc ngữ. Phong trào văn hóa – văn nghệ kháng chiến nở rộ với các bài ca cách mạng vang vang từ bến sông Dinh đến ngõ xóm.
Mạng lưới y tế sơ tán: Mỗi làng thành lập một trạm y tế cơ sở và đội cứu thương, phân công y tá, cứu thương túc trực cấp phát thuốc men, chăm sóc bà con ốm đau và sẵn sàng cáng thương khi chiến sự nổ ra.
5. Đúc súng, luyện quân và khúc dạo đầu giữ vững nền độc lập
Xác định kẻ thù xâm lược sẽ sớm quay trở lại, công tác quốc phòng toàn dân được chuẩn bị với tinh thần khẩn trương nhất:
Khí thế tự vệ quật khởi: Lực lượng dân quân tự vệ mọc lên như nấm sau mưa ở tất cả các làng. Tinh thần cứu quốc bùng lên mãnh liệt trong giới trẻ: nhiều thanh nữ đã tự nguyện cắt phăng mái tóc dài, nai nịt gọn gàng, tay cầm gậy tầm vông, giáo mác ngày đêm cùng nam giới lăn lộn trên bãi tập quân sự.
Xưởng vũ khí đầu tiên tại Vạn Phước:
Để giải quyết nạn khan hiếm súng đạn, huyện đã tổ chức ngay một xưởng cơ khí sản xuất vũ khí tại làng Vạn Phước (sau này để bảo đảm bí mật đã chuyển lên vùng gò đồi Bầu Bèo).
Bằng những mâm thau, nồi đồng của phong trào "Tuần lễ vàng", những người thợ rèn tài hoa của làng đã ngày đêm quai búa, đúc nên những khẩu súng kíp, lựu đạn vỏ gang, mìn phóng và dao găm trang bị trực tiếp cho tự vệ thôn làng.
Lửa thử vàng nơi eo biển Cà Ná (17/10/1945):
Lực lượng tự vệ địa phương đã anh dũng phối hợp cùng quân dân trong tỉnh tổ chức trận phục kích tại eo biển hiểm trở Cà Ná ngày 17/10/1945, đánh trả quyết liệt quân xâm lược, bẻ gãy đòn thọc sâu ban đầu của giặc.
Chiến lược "Vườn không nhà trống" đầu năm 1946:
Khi quân viễn chinh Pháp ồ ạt tràn vào đánh chiếm tỉnh lỵ thị xã Phan Rang đầu năm 1946, chính quyền huyện đã kịp thời lãnh đạo nhân dân triệt để tản cư theo phương châm "vườn không nhà trống".
Nhân dân các làng Vạn Phước, Phú Quý, Hữu Đức... đã gùi thồ lương thực, dìu dắt người già, con trẻ và phối hợp bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các cơ quan đầu não của tỉnh, huyện sơ tán lên các căn cứ kháng chiến an toàn (như CK7 trên dãy Hòn Thông).
Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ
Chiêm nghiệm lại giai đoạn 9 tháng đầu sau ngày độc lập (tháng 8/1945 – tháng 5/1946), đồng chí Trần Thi luôn khẳng định:
Đó là chặng đường đặt nền móng sống còn cho toàn bộ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc sau này trên quê hương Ninh Phước. 9 tháng ấy tuy ngắn ngủi nhưng đã kịp tôi luyện nên một thế hệ cán bộ thực sự là công bộc của dân, xây dựng nên một thế trận lòng dân vững như bàn thạch và đúc nên những vũ khí đầu tiên bằng chính mâm thau, hoa tai vàng của đồng bào.
Chính sức mạnh của tình đoàn kết Kinh – Chăm và niềm tin tuyệt đối vào Cụ Hồ trong những ngày tháng gian lao ấy đã trở thành bệ phóng kiên cường, giúp quân và dân huyện Ninh Hải Thượng đứng vững trước bão lửa tái chiếm của thực dân Pháp, viết tiếp bản trường ca kháng chiến chống Pháp trường kỳ đi đến thắng lợi vẻ vang.



