Bài viết

Mùa Thu Năm 1927 Và Nhát Dao Phá Xiềng Ở Làng Số 2

Đồng Nai28/10/2026Trần Hữu Long (Đoàn xã Long Hà)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Mùa Thu Năm 1927 Và Nhát Dao Phá Xiềng Ở Làng Số 2

Tháng Chín năm 1927, đồn điền Phú Riềng mới đang trong những ngày đầu khai phá. Rừng già bạt ngàn bị đốn hạ ngổn ngang để nhường chỗ cho những lô cao su non của hãng Michelin. Dưới cái nắng cháy da cháy thịt lẫn những trận mưa rừng dầm dề, hàng ngàn người phu mộ từ miền Bắc mới đặt chân vào vùng "rừng thiêng nước độc" này đã sớm nếm trải mùi vị của địa ngục trần gian.

Khét tiếng tàn bạo nhất khắp vùng đồn điền lúc bấy giờ là tên xu-đăng người Pháp Mông-tây (Monteils) — gã cai quản trực tiếp Làng số 2. Mông-tây cao lớn, mặt mũi lúc nào cũng đỏ gay vì rượu mạnh, đi đâu cũng kè kè khẩu súng lục bên hông và sợi roi gân bò dài ngoằng trong tay. Với hắn, mạng sống của người phu An Nam không đáng giá bằng một gốc cao su non. Bất kể ai đào hố chậm, lên cơn sốt rét ngã quỵ hay chỉ vô tình ngước mắt nhìn thẳng vào mặt hắn đều bị quất roi đến rách da toạc thịt, thậm chí bị trói phơi nắng đến chết rồi vất xác xuống các hố chôn tập thể ngoài bìa rừng.

Trong số những người phu ở Làng số 2 năm ấy có anh Nguyễn Đình Tư — một thanh niên nông dân khỏe mạnh, tính tình cương trực và giàu nghĩa khí. Chứng kiến cảnh anh em đồng hương cùng cảnh ngộ ngày ngày bị Mông-tây hành hạ như súc vật, lòng anh Tư quặn thắt mối căm thù uất nghẹn.

Cơn tức nước vỡ bờ ập đến vào một buổi trưa oi ả cuối tháng Chín năm 1927.

Hôm ấy, toán phu của Làng số 2 đang đào hố trồng cao su giữa trưa nắng gắt. Một người phu trẻ quê ở Nam Định vốn đang mang bệnh sốt rét rừng, vì kiệt sức và khát nước quá đã buông cuốc ngồi bệt xuống gốc cây thở dốc.

Từ đầu lô đất, tiếng vó ngựa lộc cộc vang lên. Tên xu-đăng Mông-tây cưỡi ngựa phi tới. Vừa thấy người phu ngồi nghỉ khi chưa có hiệu kẻng, hắn gầm lên một tràng tiếng Tây hung tợn rồi nhảy phắt xuống đất. Chẳng nói chẳng rằng, sợi roi gân bò trong tay hắn vung lên vun vút, quất túi bụi vào đầu, vào mặt, vào tấm lưng trần gầy guộc của người phu bệnh tật.

Máu tươi bật ra thấm đỏ cả lớp đất bazan. Người phu trẻ chỉ kịp kêu lên mấy tiếng yếu ớt rồi ôm ngực ngã vật ra đất, co giật từng hồi dưới gót giày đinh của tên ác ôn.

Đứng cách đó chỉ vài bước chân, đôi bàn tay đang nắm cán cuốc của Nguyễn Đình Tư run lên bần bật, những đường gân xanh nổi cuồn cuộn trên cánh tay rám nắng. Anh Tư ném phắt chiếc cuốc xuống đất, bước sầm sập tới đứng chắn trước mặt tên Mông-tây, giọng đanh lại: — Ông chủ! Nó đang sốt rét sắp chết rồi, sao ông còn đánh nó tàn nhẫn thế?!

Tên Mông-tây trợn trừng đôi mắt xanh lè nhìn người phu dám cả gan cãi lời mình. Hắn nhếch mép cười khẩy, vung thẳng ngọn roi gân bò quất một nhát chí mạng ngang mặt anh Tư làm rách một đường dài rướm máu trên gò má: — Đồ con lợn An Nam! Mày cũng muốn chết theo nó hả? Cút ngay về hố đào đất!

Đêm hôm đó, trong căn lán ẩm thấp hôi hám mùi mồ hôi và máu của Làng số 2, không một ai chợp mắt được. Người phu trẻ bị Mông-tây đánh lúc trưa đã trút hơi thở cuối cùng khi trời vừa sập tối. Xác người bạn đồng hương nằm lạnh ngắt trên tấm phản gỗ ghép bằng thân cây rừng, đôi mắt vẫn còn mở trừng trừng uất hận.

Giữa không gian tang tóc, Nguyễn Đình Tư lặng lẽ đứng dậy. Anh rút con dao cạo mủ đã mài sắc lẹm giấu dưới sạp nằm, đặt mạnh lên giữa bàn trước mặt hơn hai mươi anh em phu cao su thân tín nhất trong lán. Ánh đèn dầu leo lét hắt lên vết thương còn rớm máu trên má anh.

Anh Tư nhìn quanh một lượt, giọng trầm đục như vọng lên từ lòng đất: — Anh em ơi! Chúng mình bị lừa bán vào cái xứ rừng thiêng nước độc này, làm quần quật từ lúc gà gáy đến tối mịt mà cơm không đủ ăn, ốm không có thuốc. Chiều nay thằng Mông-tây đánh chết thằng Đạt, ngày mai đến lượt tôi, ngày kia đến lượt anh em. Đằng nào cũng là một cái chết! Thà đứng lên trừ khử thằng Tây ác ôn này để báo thù cho anh em, cho chúng nó biết người phu Việt Nam không phải là cỏ rác, còn hơn cứ cúi đầu chờ chết dần chết mòn!

Cả lán trại lặng đi một nhịp rồi bỗng bùng lên như củi khô gặp lửa: — Phải đấy anh Tư! Không chịu nhục được nữa rồi! — Sống chết có nhau! Anh Tư bảo sao anh em tôi nghe vậy!

Ngay trong đêm khuya khoắt ấy, tại một góc rừng kín đáo phía sau Làng số 2, Nguyễn Đình Tư cùng những người anh em dũng cảm nhất đã chích máu ăn thề, nguyện đồng tâm hiệp lực sống chết không khai báo nửa lời. Một kế hoạch trừng trị tên Mông-tây ngay tại hiện trường lao động vào sáng hôm sau được vạch ra chớp nhoáng.

Sáng ngày hôm sau (cuối tháng 9/1927), sương mù còn giăng trắng xóa các lô cao su mới trồng của Làng số 2. Như thường lệ, tên xu-đăng Mông-tây lại nghênh ngang đi kiểm tra các toán phu phát cỏ, đào hố.

Khi hắn vừa đi tới khu vực hẻo lánh giáp bìa rừng già, nơi toán của Nguyễn Đình Tư đang làm việc, hắn lại bắt đầu chửi bới và vung roi quất vào lưng một người phu đi đầu.

Chỉ chờ có thế, Nguyễn Đình Tư hét lớn một tiếng vang động cả góc rừng: — Anh em! Đánh chết thằng ác ôn này đi!

Nhanh như một con hổ vồ mồi, anh Tư lao thẳng vào gạt phăng ngọn roi da, dùng hết sức bình sinh quật ngã tên Mông-tây cao lớn xuống hố đất đỏ trước khi hắn kịp rút khẩu súng lục bên hông. Cùng lúc đó, hàng chục người phu từ khắp các hàng cây nhất tề ập tới với cuốc chim, dao phát rừng và gậy gộc trên tay. Mối căm thù chất chứa bao ngày tháng bị đọa đày dồn cả vào những cánh tay gân guốc. Chỉ trong chốc lát, tên cai Tây khét tiếng tàn bạo từng làm mưa làm gió ở Làng số 2 đã phải đền tội ngay trên mảnh đất thấm đẫm máu người phu.

Tin Nguyễn Đình Tư và công nhân Làng số 2 nổi dậy giết chết tên xu-đăng Mông-tây làm chấn động toàn bộ đồn điền Phú Riềng và cả chính quyền thực dân Pháp ở Nam Kỳ. Bọn chủ Tây ở các làng khác kinh hồn bạt vía, nhiều ngày liền không dám bước chân ra lô cao su một mình.

Thực dân Pháp lập tức điều hàng trăm lính mã tà từ Biên Hòa, Thủ Dầu Một lên vây ráp Làng số 2. Để tránh liên lụy đến hàng trăm anh em công nhân vô tội khác trong làng, Nguyễn Đình Tư cùng những người đồng đội trực tiếp tham gia hôm ấy đã hiên ngang đứng ra nhận hết trách nhiệm trước mũi súng quân thù. Thực dân Pháp đưa anh Tư và các bạn tù ra xét xử tại Tòa đại hình Sài Gòn với những bản án tù khổ sai nặng nề và lưu đày biệt xứ.

Dù cuộc nổi dậy tự phát của anh Nguyễn Đình Tư ở Làng số 2 năm 1927 bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, nhưng nhát dao phá xiềng của người công nhân kiên cường ấy đã trở thành tiếng sấm đầu tiên xé toạc màn đêm nô lệ ở Phú Riềng — mở đường cho sự ra đời của Chi bộ Đảng do anh Nguyễn Xuân Cừ sáng lập năm 1929 và cuộc tổng bãi công "Phú Riềng Đỏ" vang dội của anh Trần Tử Bình năm 1930.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn