Cựu chiến binh

MÙA VÀNG TRÊN CÁC PALEI CHĂM – CHỈ THỊ 121 VÀ KHÚC KHẢI HOÀN HỢP TÁC HÓA NINH PHƯỚC (1982 – 1985) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN

Khánh Hòa30/09/2026Phạm Thanh Mân ((NT) Xã Ninh Phước)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

đời người trải qua 30 năm khói lửa cầm súng đánh giặc, nhưng nhìn thấy người nông dân quê mình – nhất là bà con Chăm ở các palei cổ – lần đầu tiên có mảnh đất cắm dùi công bằng, bước vào hợp tác xã làm ăn lớn, lòng tôi lại rưng rưng niềm xúc động khôn nguôi.

Nếu như giai đoạn 1978 – 1981 với sự tiếp sức của 20 cán bộ Trung ương do đồng chí Nguyễn Văn Lành dẫn đầu mới chỉ là bước "vỡ đất, đặt móng" lập được 8 HTX, thì bước sang giai đoạn 1982 – 1985, phong trào đã thực sự biến thành một cuộc cách mạng kinh tế – xã hội sâu rộng. Ngọn gió ấm áp từ Chỉ thị 121 của Ban Bí thư đã thổi bùng lên ngọn lửa tin yêu của đồng bào Chăm đối với Đảng và cách mạng.

1. Luồng gió mới từ Chỉ thị 121: Xóa bỏ tàn tích phong kiến, chia đều ruộng đất

Trước đây, ruộng đất trong các làng Chăm tuy không có đồn điền lớn như miền Tây Nam Bộ nhưng lại bị kìm kẹp bởi tàn tích sở hữu của tầng lớp chức sắc quý tộc phong kiến cũ, địa chủ người Kinh và ngụy quyền tay sai. Nhiều hộ nông dân Chăm nghèo từ đời ông sang đời cháu phải đi làm thuê, phát canh thu tô, nợ nần chồng chất:

  • Mệnh lệnh xóa bỏ chiếm hữu phong kiến:

  • Quán triệt Chỉ thị 121 của Ban Bí thư, Huyện ủy An Sơn (An Phước/Ninh Phước) hạ quyết tâm chính trị: Phải xóa bỏ triệt để mọi hình thức bóc lột phong kiến còn sót lại, đưa đất đai về tay người trực tiếp đổ mồ hôi trên đồng ruộng.

  • Các đoàn công tác của huyện phối hợp chặt chẽ cùng ban nhân dân các thôn, palei tiến hành kiểm kê thực địa, đo đạc lại toàn bộ diện tích công điền, tư điền, đất hoang hóa.

  • Chính sách nhân văn sâu sắc:

    • Huyện kiên quyết thu hồi những diện tích chiếm hữu bất hợp pháp, ruộng đất phát canh thu tô để chia lại cho các hộ đồng bào không có đất hoặc thiếu đất canh tác.

  • Đặc biệt, thấm nhuần chính sách hòa hợp, khoan hồng của Đảng, những người từng phục vụ trong bộ máy ngụy quân, ngụy quyền hoặc theo Fulrô đã qua học tập cải tạo, phục thiện đều được cấp phát ruộng đất bình đẳng như mọi xã viên khác để an tâm lao động, nuôi sống gia đình.

  • Định mức bình quân công bằng:

    • Nhờ cách làm dân chủ, công khai, bàn bạc kỹ lưỡng với các vị Cả Sư và bô lão dòng họ, mức cấp ruộng đất bình quân cho mỗi nhân khẩu tại các làng Chăm đạt trên dưới 900 m²/người.

  • Cầm giấy giao đất trên tay, nhiều bà mẹ Chăm tóc bạc phơ ở Hữu Đức, Hậu Sanh, Văn Lâm đã trào nước mắt nghẹn ngào: "Đất này từ nay là của con cháu mình rồi, không còn sợ quan Tây, quan ngụy hay phú nông đòi nợ lúa nữa!".

  • 2. Năm 1985: Khúc khải hoàn hợp tác hóa tại 17 làng Chăm

    Từ chỗ có ruộng đất trong tay, lòng dân phấn khởi, việc vận động bà con đưa tư liệu sản xuất vào Hợp tác xã diễn ra vô cùng thuận lợi. Đến năm 1985, huyện Ninh Phước đã chính thức hoàn thành 100% công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp tại toàn bộ 17 làng đồng bào Chăm:

    • Quy mô tư liệu sản xuất tập thể:

    • Ruộng đất: Các HTX vùng Chăm đã đưa vào quản lý và canh tác thống nhất 100% diện tích ruộng đất với tổng cộng 3.672 ha bờ xôi ruộng mật.

  • Sức kéo: Quản lý tập trung 2.906 con trâu, bò cày kéo, chấm dứt tình trạng hộ thừa trâu bò nhưng thiếu đất, hộ có đất lại thiếu sức cày.

  • Cơ giới hóa nông nghiệp: Huyện trang bị cho các HTX vùng Chăm 9 máy cày công suất lớn. Tiếng máy cày gầm vang xới tung những luống đất cát cằn cỗi đã thực sự giải phóng đôi vai trần của người nông dân khỏi cảnh "con trâu đi trước, cái cày theo sau".

  • Cơ sở hạ tầng và thiết chế văn hóa bề thế:

    • Để phục vụ cho quy mô sản xuất lớn, các HTX đã xây dựng hệ thống kho tàng, sân phơi đồng bộ:

    • 2.813 m² nhà kho kiên cố bảo quản thóc giống, lương thực.

  • 17.325 m² sân phơi bêtông rộng thênh thang, nơi mỗi độ mùa màng lúa vàng trải dài ngút mắt.

  • 2.095 m² nhà làm việc khang trang cho ban quản trị HTX.

  • Bên cạnh đó, các HTX còn trích quỹ phúc lợi xây dựng nhà mẫu giáo cho con em xã viên, trạm xá y tế thôn, giếng nước công cộng và các nhà sinh hoạt văn hóa buôn làng, làm thay đổi hoàn toàn diện mạo nông thôn vùng Chăm.

  • Ý NGHĨA LỊCH SỬ BẤT TỬ

    Nhìn lại mốc son năm 1985 trên mảnh đất Ninh Phước, người cộng sản tiền bối Trần Thi luôn khẳng định:

    Thắng lợi của công tác điều chỉnh ruộng đất theo Chỉ thị 121 và việc hoàn thành hợp tác hóa tại 17 làng Chăm mang ý nghĩa chính trị – xã hội và nhân văn to lớn:

    1. Củng cố vững chắc thế trận lòng dân: Việc xóa bỏ bóc lột phong kiến, cấp 900 m² ruộng đất/người cho cả những đối tượng lầm lỡ hoàn lương đã đập tan hoàn toàn mọi luận điệu tuyên truyền, chia rẽ của tàn dư Fulrô. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc Kinh – Chăm được hàn gắn, tôi luyện thành một bức tường thành kiên cố.

  • Bước nhảy vọt về sức sản xuất: Việc quy tụ 3.672 ha đất, gần 3.000 con trâu bò, 9 máy cày và hàng chục ngàn mét vuông kho tàng, sân phơi đã đặt nền móng vật chất vững chãi cho nông nghiệp Ninh Phước, sẵn sàng cùng cả nước bước vào công cuộc Đổi mới toàn diện từ năm 1986.

  • Tiếng trống Ghi-năng rộn rã, điệu múa quạt Chăm uyển chuyển bên những sân phơi đầy ắp thóc vàng năm 1985 chính là khúc khải hoàn ca rực rỡ nhất cho một thời hoa lửa: đánh giặc để giành độc lập, và xây dựng quê hương để mang lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc thực sự cho muôn đời con cháu.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    MÙA VÀNG TRÊN CÁC PALEI CHĂM – CHỈ THỊ 121 VÀ KHÚC KHẢI HOÀN HỢP TÁC HÓA NINH PHƯỚC (1982 – 1985) DƯỚI GÓC NHÌN ĐỒNG CHÍ TRẦN THANH SƠN | Câu chuyện thời hoa lửa