MÙA XUÂN NĂM 1975 – ĐẠI THẮNG GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Nguyễn Thị Ánh Tuyết K13E.GDTH
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, quân đội Mỹ buộc phải rút toàn bộ lực lượng chiến đấu về nước, làm thay đổi căn bản và sâu sắc cục diện chiến trường miền Nam. Tuy nhiên, dù thiếu vắng sự hiện diện trực tiếp của quân đội Mỹ, chính quyền Sài Gòn vẫn cố chấp ngoan cố, liên tục tung ra các chiến dịch hành quân "tràn ngập lãnh thổ" nhằm lấn đất, giành dân và phá hoại nền hòa bình vừa mới bước đầu gầy dựng. Trước tình hình ấy, lực lượng cách mạng không dừng lại mà chủ động củng cố thế và lực, mở rộng các vùng giải phóng liên hoàn và xây dựng tuyến hậu cần chiến lược xuyên Bắc – Nam ngày càng vững chắc. Nhận thấy sức suy yếu rõ rệt của đối phương cùng sự trưởng thành vượt bậc của quân ta, đầu năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhạy bén đánh giá thời cơ lịch sử để giải phóng hoàn toàn miền Nam đã chín bồi, từ đó đề ra kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong hai năm 1975–1976, đồng thời linh hoạt dự kiến nếu thời cơ đến sớm sẽ lập tức giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
Khởi đầu cho chuỗi tiến công chiến lược mang tính quyết định ấy chính là Chiến dịch Tây Nguyên, chính thức nổ súng từ ngày 4 tháng 3 năm 1975. Bằng nghệ thuật nghi binh mưu trí và tài tình, quân Giải phóng đã thu hút toàn bộ chủ lực địch về hướng Bắc Tây Nguyên tại Pleiku và Kon Tum, rồi bất ngờ dồn hỏa lực giáng một đòn hiểm hóc vào Buôn Ma Thuột — vị trí yếu hại và then chốt nhất trong hệ thống phòng thủ của quân đội Việt Nam Cộng hòa tại dải đất Tây Nguyên. Rạng sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, các cánh quân ta đồng loạt xông lên tiến công và nhanh chóng làm chủ hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột chỉ một ngày sau đó. Thắng lợi vang dội này như một trận động đất làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, đẩy Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến quyết định sai lầm chiến lược: ra lệnh rút bỏ toàn bộ Quân đoàn II khỏi Tây Nguyên để co cụm giữ dải đồng bằng duyên hải miền Trung. Cuộc rút chạy hỗn loạn trên Đường 7 lập tức bị quân ta truy kích tiêu diệt gọn, dẫn đến việc giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên và tạo nên bước ngoặt lịch sử, chuyển cuộc tiến công chiến lược thành cuộc Tổng tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.
Nắm bắt thời cơ ngàn năm có một đang phát triển với tốc độ phi thường, Bộ Chính trị liền chỉ đạo mở tiếp Chiến dịch Huế – Đà Nẵng nhằm tiêu diệt Quân đoàn I — lực lượng tinh nhuệ và sừng sỏ nhất của chính quyền Sài Gòn ở miền Trung. Từ ngày 21 tháng 3 năm 1975, các lực lượng cách mạng tiến công chia cắt, siết chặt vòng vây xung quanh các vị trí phòng thủ của địch tại khu vực Thừa Thiên – Huế, để rồi đến ngày 26 tháng 3, Cố đô Huế hoàn toàn được giải phóng trong niềm hân hoan của nhân dân. Không để kẻ thù kịp thở hay co cụm củng cố lực lượng, các binh đoàn chủ lực của ta nhanh chóng áp sát, tiến công dồn dập từ nhiều hướng vào căn cứ quân sự liên hợp khổng lồ ở Đà Nẵng, đập tan mọi sự chống trả và giải phóng thành phố này vào ngày 29 tháng 3 năm 1975. Những chiến thắng liên tiếp, dồn dập tại Tây Nguyên, Huế và Đà Nẵng đã giáng đòn chí mạng, đẩy chính quyền và quân đội Sài Gòn vào nguy cơ sụp đổ và tan rã toàn diện.
Trước những biến chuyển dồn dập và vô cùng thuận lợi trên chiến trường, Bộ Chính trị đã đưa ra quyết định lịch sử: tập trung tối đa lực lượng, phương tiện cùng vũ khí để giải phóng Sài Gòn – Gia Định trước khi mùa mưa ập đến. Đến ngày 14 tháng 4 năm 1975, chiến dịch tiến công giải phóng trung tâm đầu não của địch chính thức được mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh". Đáp lại lời kêu gọi với tinh thần "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa", 5 cánh quân chủ lực quy mô cấp quân đoàn gồm hướng Bắc, Đông Bắc, Tây Nam, Đông và Tây đã khẩn trương vượt hàng ngàn cây số, liên tục đập tan các tuyến phòng thủ từ xa như Xuân Lộc, Phan Rang để siết chặt vòng vây xung quanh Sài Gòn.
Chiều ngày 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử chính thức nổ súng. Các binh đoàn chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt dội hỏa lực, phá vỡ các tuyến phòng thủ ngoại vi và mở đường cho những đoàn xe tăng, xe thiết giáp cùng bộ binh tiến thẳng vào nội đô. Sáng 30 tháng 4 năm 1975, quân Giải phóng đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu chiến lược cốt yếu gồm Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh và Bộ Tư lệnh Cảnh sát quốc gia. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng Chiếc xe tăng T-59 mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn 203 (Quân đoàn 2) húc văng cánh cổng sắt, tiến vào sân Dinh Độc Lập. Lá cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tung bay trên đỉnh Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, đưa Chiến dịch Hồ Chí Minh đến thắng lợi hoàn toàn.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã chấm dứt hoàn toàn 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ và hơn một thế kỷ ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đất nước Nam - Bắc sau nhiều năm chia cắt nay đã trọn vẹn thu về một mối, mở ra một kỷ nguyên mới rực rỡ cho dân tộc Việt Nam — kỷ nguyên của độc lập, thống nhất và cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Chiến công hiển hách mang tầm vóc đại thắng ấy không chỉ được làm nên bởi đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn được đánh đổi bằng sự hy sinh vô bờ bến của hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống, dâng trọn tuổi thanh xuân vì độc lập, tự do và sự trường tồn bất tử của Tổ quốc.



