Khác

“MÙA XUÂN NÀO ÔNG SẼ TRỞ VỀ?”

Hơn năm mươi mùa xuân đã đi qua kể từ ngày ông khoác ba lô lên đường ra trận, để lại phía sau người vợ trẻ và bốn người con thơ cùng một lời hứa giản dị: “Mùa xuân đến,hòa bình lập lại anh về dẫn cả nhà ta đi ngắm hoa mai”.Và bà đã chờ ông qua những mùa mưa nắng, qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, qua những ngày đất nước hòa bình và qua cả tuổi trẻ của chính mình. Bốn người con rồi cũng lớn lên, mái tóc bà rồi cũng bạc trắng, chỉ có lời hứa năm nào vẫn nằm nguyên trong một góc sâu thẳm của trái tim người phụ nữ đã dành gần trọn cuộc đời để chờ đợi. Có lẽ, điều đau đớn nhất của chiến tranh không chỉ là những người lính không thể trở về, mà còn là những người ở lại đã sống cả một đời trong câu hỏi không bao giờ có lời đáp: “Mùa xuân nào ông sẽ trở về?”. Đây là câu chuyện của ông bà tôi về một người lính đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trận và một người vợ đã gửi lại cả tuổi xuân của mình trong những tháng ngày đợi chờ.

Hà Nội21/08/2026Trần Thị Hoài Thu (Đoàn trường Đại học Phạm Văn Đồng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hơn năm mươi mùa xuân đã đi qua kể từ ngày ông khoác ba lô lên đường ra trận, để lại phía sau người vợ trẻ và bốn người con thơ cùng một lời hứa giản dị: “Mùa xuân đến,hòa bình lập lại anh về dẫn cả nhà ta đi ngắm hoa mai”.Và bà đã chờ ông qua những mùa mưa nắng, qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt, qua những ngày đất nước hòa bình và qua cả tuổi trẻ của chính mình. Bốn người con rồi cũng lớn lên, mái tóc bà rồi cũng bạc trắng, chỉ có lời hứa năm nào vẫn nằm nguyên trong một góc sâu thẳm của trái tim người phụ nữ đã dành gần trọn cuộc đời để chờ đợi. Có lẽ, điều đau đớn nhất của chiến tranh không chỉ là những người lính không thể trở về, mà còn là những người ở lại đã sống cả một đời trong câu hỏi không bao giờ có lời đáp: “Mùa xuân nào ông sẽ trở về?”.

Đây là câu chuyện của ông bà tôi về một người lính đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trận và một người vợ đã gửi lại cả tuổi xuân của mình trong những tháng ngày đợi chờ.

“ Anh đi chưa chắc gì anh về

Đường anh đi leo luống biết anh về đặng không?..”

Tuổi thơ tôi từ lúc sinh ra đến nay trưởng thành đã gần hai mươi năm, có lẽ câu thơ trên đã trở thành những nhịp vần in sâu trong tiềm thức tôi một cách thân thuộc và khó phôi phai nhất. Đó là câu ngoại tôi hay nói, hay cất lên thành lời hát ru tôi ngủ và hay rơm rớm đau lòng mỗi khi nhắc về, bởi đấy là sự nhắn nhủ,mong chờ kèm chút hụt hẫng của bà gửi đến người chồng yêu thương đã nằm lại nơi chiến trận hơn nửa thế kỷ qua cùng lời hứa cả đời không thực hiện được. Có những câu chuyện, nếu chỉ nghe một lần, ta tưởng đó là câu chuyện của một người khác, của một thế hệ khác, của một thời đại đã nằm rất xa phía sau những ngày tháng bình yên mà mình đang sống; nhưng cũng có những câu chuyện càng nghe, ta càng nhận ra rằng nó chưa bao giờ thật sự thuộc về quá khứ, bởi nó vẫn hiện diện trong ánh mắt của một người bà đã già nua, trong những khoảng lặng bất chợt khi nhắc đến một người đã đi xa, trong bốn người con đã trưởng thành mà tuổi thơ thiếu đi bóng dáng người cha, và trong chính trái tim của một đứa cháu sinh ra khi chiến tranh đã lùi rất xa nhưng vẫn có thể cảm nhận được sức nặng của một cuộc chia ly đau khổ kéo dài ngần ấy năm.

Câu chuyện ấy tôi được nghe từ bà ngoại tôi, trong những buổi chiều rất đỗi bình thường, khi nắng đã dịu trên mái nhà, khi bà ngồi lặng lẽ bên hiên và những ký ức tưởng như đã ngủ quên trong năm tháng lại trở về theo từng câu kể; đó là câu chuyện về ông ngoại tôi là một người lính đã rời quê hương để bước vào chiến trận khi tuổi đời còn trẻ, để lại phía sau người vợ tảo tần và những đứa con thơ, mang theo một lời hứa giản dị rằng rồi ông sẽ trở về, nhưng lời hứa ấy cuối cùng lại trở thành sự chờ đợi kéo dài hơn năm mươi năm trong cuộc đời một người phụ nữ.

Tôi chưa từng được nhìn thấy ông bằng đôi mắt của mình, chưa từng được nghe giọng ông gọi tên mình, cũng chưa từng có cơ hội ngồi cạnh ông trong một bữa cơm gia đình để nghe ông kể về những năm tháng tuổi trẻ; những gì tôi biết về ông chỉ là những mảnh ký ức được bà chậm rãi ghép lại qua năm tháng, khi thì một câu chuyện ngắn, khi thì một cái nhìn xa xăm, khi thì một khoảng im lặng kéo dài mà tôi hiểu rằng phía sau sự im lặng ấy có lẽ là rất nhiều điều bà muốn kể nhưng không thể kể thành lời và đổi lại là những dòng nước mắt lưng tròng khó an ủi.

Ông ra đi khi đất nước còn chiến tranh.

Ngày ấy, ông cũng chỉ là một người đàn ông trẻ như bao người đàn ông trẻ khác, có một mái nhà để thương, có người vợ để nhớ, có những đứa con để mong ngóng và có lẽ trong sâu thẳm cũng từng ước ao một cuộc sống bình thường, được làm việc, được trở về sau mỗi ngày, được nhìn thấy con cái lớn lên, được cùng người mình yêu đi qua những mùa mưa nắng của một đời người; thế nhưng khi Tổ quốc đứng trước những năm tháng gian nan, ông cũng như biết bao người lính của thế hệ mình đã gác lại những ước mơ riêng tư ấy, khoác lên mình màu áo lính và bước về phía chiến trường, nơi mà chẳng ai có thể biết chắc ngày mai mình còn có cơ hội trở về hay không.

Ngày ông đi, bà ở lại.

Có lẽ lúc tiễn ông, bà không nghĩ rằng mình sẽ phải chờ lâu đến thế, bởi trong lòng một người vợ trẻ khi ấy, lời hứa “anh sẽ trở về” vẫn đủ sức làm nên một niềm tin rất lớn; bà tin vào ngày gặp lại, tin rằng rồi chiến tranh sẽ qua, tin rằng ông sẽ trở về với mái nhà nhỏ, với người vợ và những đứa con đang chờ đợi, và có lẽ chính niềm tin ấy đã giúp bà đứng vững trong những ngày tháng mà nếu không có nó, một người phụ nữ phải một mình đối diện với chiến tranh và nuôi bốn người con có lẽ sẽ chẳng biết lấy đâu ra sức mạnh để tiếp tục.

Ông đi về phía chiến trường, còn bà bắt đầu một cuộc chiến khác ở phía sau.

Cuộc chiến của bà không có tiếng súng, không có chiến hào, không có những trận đánh được ghi vào lịch sử, nhưng đó là một cuộc chiến âm thầm kéo dài qua từng ngày, từng tháng, từng mùa, khi bà vừa làm mẹ, vừa làm cha, vừa gánh vác gia đình, vừa nuôi bốn người con lớn lên trong sự thiếu vắng bóng dáng người cha; bà phải tự mình lo từng bữa cơm, tự mình chống chọi với những nhọc nhằn của cuộc sống, tự mình giấu đi những nỗi lo mỗi khi nghe tin chiến sự, tự mình nuốt nước mắt vào trong để những đứa con không nhìn thấy sự yếu đuối của mẹ, bởi nếu bà cũng gục xuống thì những đứa trẻ ấy biết dựa vào ai.

Tôi thường nghĩ, người ta hay nói về những người lính như những con người anh hùng đã đi qua bom đạn, nhưng càng nghe bà kể, tôi càng hiểu rằng phía sau mỗi người lính bước ra chiến trường thường có một người cũng đang âm thầm chiến đấu ở hậu phương; ông có chiến trường của ông, nơi ông phải đối mặt với hiểm nguy và sự sống - cái chết, còn bà có chiến trường của bà, nơi không có tiếng súng nhưng mỗi ngày đều là một cuộc đấu tranh với đói nghèo, cô đơn, nhớ thương và nỗi sợ hãi không biết người mình yêu đang ở đâu, liệu ngày mai có còn trở về hay không?

Và điều khiến tôi đau lòng nhất là bà đã không chỉ chờ ông một vài năm.Bà đã chờ ông hơn năm mươi năm.

Hơn năm mươi năm - một khoảng thời gian dài đến mức một đứa trẻ có thể lớn lên, trưởng thành, lập gia đình rồi già đi; dài đến mức những người từng sống cùng thời với ông có thể lần lượt rời khỏi cuộc đời; dài đến mức những con đường quen thuộc đã thay đổi, những mái nhà cũ đã không còn nguyên vẹn, những mùa mưa mùa nắng cứ nối tiếp nhau đi qua, vậy mà trong trái tim bà, dường như có một nơi vẫn được giữ nguyên cho người chồng đã ra đi từ thuở tuổi trẻ.

Tôi đã từng nghĩ chờ đợi chỉ đơn giản là mong một người trở về, nhưng khi nhìn bà, tôi mới hiểu rằng chờ đợi đôi khi chính là một cách sống, là mỗi sáng thức dậy vẫn nhớ đến một người, là mỗi lần nghe tiếng bước chân ngoài ngõ vẫn có một thoáng mong chờ, là những ngày lễ, những mùa Tết, những bữa cơm gia đình luôn có một khoảng trống không ai ngồi vào, là việc nhìn bốn người con lần lượt trưởng thành mà trong lòng vẫn mang theo một câu hỏi chưa bao giờ có được câu trả lời trọn vẹn: “Bao giờ ông sẽ trở về? Bao giờ mai mới nở cho gia đình ta cùng ngắm?..”

Bà đã chờ qua tuổi trẻ.Chờ qua những năm tháng đẹp nhất của đời người.Chờ đến khi những đứa con ngày nào còn thơ dại nay đã trưởng thành lần lượt dựng vợ gả chồng.Chờ đến khi mái tóc đen ngày nào dần chuyển sang màu bạc trắng.Chờ đến khi đôi bàn tay từng làm lụng không biết mỏi trở nên nhăn nheo, run rẩy.Chờ đến khi đôi mắt từng ngóng về phía con đường trở nên mờ đi theo năm tháng mà vô tình bỏ qua một kí ức đớn đau và tê tái rằng: ông ngoại đã hi sinh vào một buổi chiều cuối thu.Khi ấy trời se se lạnh, bốn người con ngồi xoay quanh bếp củi chờ mẹ nấu cơm và đột ngột tin dữ được truyền về như xé toạc cái màn đêm buốt giá ấy. Tôi nghe kể lại ông tôi đã bị viên đạn xuyên thẳng vào ngay cổ,ông đã nằm lại trơ trọi giữa khu rừng tĩnh mịch kèm nỗi nhớ thương,mong ngóng và tuyệt vọng được trở về đoàn tụ cùng vợ hiền con ngoan,cùng chung sống trong không khí hòa bình ngắm hoa trái đâm chồi nảy lộc. Duyên phận gặp lại cũng cắt đứt từ ấy,chẳng có cánh mai nào nở rộ đợi chờ ông bà cùng chiêm ngưỡng...

Bà nay đã ngoài tám mươi, có những ký ức dần đóng khép nhưng có một điều kỳ lạ là thời gian có thể làm con người già đi, có thể làm nhiều kỉ niệm phai nhạt, có thể khiến biết bao điều trong cuộc sống đổi thay, nhưng dường như không thể làm bà thôi nhớ ông, nhớ về thời tươi thời hoa, thời mười mấy đôi mươi cùng ông dựng xây gia đình hạnh phúc.

Tôi đã từng hỏi bà rằng:

“Bà có giận ông không?”

Bà không trả lời ngay.

Bà im lặng rất lâu, rồi chỉ nhẹ nhàng nói:

“Ông có muốn bỏ bà con mình đâu… Chiến tranh mà.”

Chỉ một câu nói ấy thôi mà tôi thấy lòng mình nghẹn lại.

“Chiến tranh mà.”

Hai chữ ấy nghe nhẹ đến đau lòng.

Bởi chiến tranh đâu chỉ là những gì chúng ta nhìn thấy trong sách giáo khoa, không chỉ là những trận đánh, những con số thương vong hay những mốc thời gian được ghi nhớ trong lịch sử; chiến tranh còn là một người chồng rời khỏi vòng tay người vợ, là một người cha không kịp nhìn thấy con mình trưởng thành, là bốn đứa trẻ lớn lên trong sự thiếu hụt một bóng hình, là một người phụ nữ phải một mình gánh cả gia đình trên đôi vai nhỏ bé, và là hơn nửa thế kỷ sau đó, khi đất nước đã hòa bình từ rất lâu, vết thương trong lòng người ở lại vẫn chưa bao giờ thật sự lành lặn.

Tôi thương bà tôi ở chính điều ấy.Bởi bà không chỉ mất đi một người chồng trong những năm tháng chiến tranh mà bà còn mất đi những năm tháng lẽ ra thuộc về một gia đình đủ đầy nuôi dưỡng con cái lớn khôn, mất đi những buổi sáng chiều có người cùng sẻ chia công việc, mất đi những ngày tháng được tựa vào vai chồng khi mệt mỏi, mất đi cơ hội nhìn người mình yêu già đi bên cạnh mình như bao đôi vợ chồng bình thường khác.

Còn ông, tôi tin rằng ông cũng đã mang theo hình bóng gia đình trong suốt những năm tháng nơi chiến trường. Tôi không biết ông đã trải qua những gì.Tôi không biết ông đã từng đi qua những nơi nào, đã từng chứng kiến những mất mát ra sao, đã từng có bao nhiêu đêm nhớ nhà, cũng không biết trong những khoảnh khắc đối diện với hiểm nguy, ông có nghĩ đến người vợ đang chờ mình ở quê nhà hay không.Nhưng tôi biết rằng ông đã từng có một gia đình để thương, có bốn người con để nhớ, có một người vợ để hứa ngày trở về, và chính vì thế, tôi càng trân trọng hơn sự lựa chọn của những người lính năm ấy: họ không phải những con người không biết sợ, càng không phải những con người không biết đau, mà họ là những con người biết mình có thể mất đi tất cả nhưng vẫn sẵn sàng bước về phía trước khi Tổ quốc cần.

Họ đã đem tuổi trẻ của mình đặt vào những năm tháng gian lao nhất của đất nước, đem tình riêng gửi lại phía sau để gánh lấy nghĩa lớn, và chính sự hy sinh thầm lặng ấy đã góp phần làm nên những ngày bình yên mà thế hệ chúng tôi đang được sống.

Tôi nghĩ về ông và nghĩ về biết bao người lính cùng thế hệ với ông. Họ cũng từng là những chàng trai trẻ.Họ cũng từng rất muốn sống,muốn trở về..Muốn được cưới người mình yêu, được làm cha, được nhìn con lớn, được ngồi bên mâm cơm gia đình và kể những câu chuyện của một ngày đã qua.Nhưng chiến tranh buộc họ phải trưởng thành trong một thời đại mà tuổi trẻ không được lựa chọn quá nhiều cho riêng mình.Vì thế, tôi không muốn chỉ gọi họ là những người lính đã chiến đấu.Tôi muốn gọi họ là những người đã gửi lại tuổi xuân của mình cho đất nước.Và tôi cũng muốn gọi những người phụ nữ như bà là những người đã âm thầm giữ lửa cho hậu phương, bởi nếu người lính là những người đi qua bom đạn để bảo vệ quê hương thì những người ở lại cũng đã đi qua một cuộc chiến khác để giữ cho mái nhà không đổ xuống, để những đứa con được lớn lên, để niềm tin vào ngày đoàn tụ không bị chiến tranh cuốn mất.

Ngày hôm nay, tôi được sinh ra trong hòa bình.Tôi được đến trường, được học tập, được ngồi trong giảng đường, được nghĩ về tương lai và được tự do theo đuổi những ước mơ của tuổi trẻ; những điều tưởng như rất bình thường ấy đối với tôi và nhiều người trẻ hôm nay có thể chẳng có gì đặc biệt, nhưng khi đặt nó bên cạnh câu chuyện của ông bà, tôi mới hiểu rằng sự bình thường của chúng tôi đôi khi được đánh đổi bằng những điều không hề bình thường của thế hệ trước.Tôi có thể gọi điện cho người thân bất cứ lúc nào.Tôi có thể trở về nhà sau một ngày học tập.Tôi có thể ngồi bên bà, nghe bà kể chuyện.

Nhưng ông đã từng không có những điều giản dị ấy.Và bà đã từng phải sống trong những ngày mà một lá thư, một tin tức hay một lời báo bình an cũng quý giá hơn bất cứ món quà nào.

Có lẽ vì thế mà mỗi lần nhìn bà bây giờ, tôi không chỉ nhìn thấy một người bà đã già.Tôi nhìn thấy người phụ nữ trẻ năm nào đã đứng tiễn chồng lên đường.Tôi nhìn thấy một người mẹ đã một mình nuôi bốn người con.Tôi nhìn thấy một người vợ đã chờ hơn nửa thế kỷ cho một lời hứa trở về.Và tôi nhìn thấy phía sau mái tóc bạc ấy là cả một thời đại mà tôi chưa từng sống qua nhưng suốt đời sẽ mang ơn.

Tôi nghĩ, có lẽ bà không còn chờ ông bước qua cánh cửa như ngày xưa nữa; điều bà chờ có lẽ là một ngày được gặp lại người mình thương ở một nơi nào đó, nơi không còn chiến tranh, không còn chia lìa, nơi ông có thể trở về đúng như lời ông đã hứa, và bà có thể thôi làm người đứng đợi.

Còn tôi, tôi sẽ thay bà giữ lấy câu chuyện này.

Tôi muốn kể cho những người trẻ như tôi biết rằng đằng sau hai chữ “hòa bình” không chỉ là một trạng thái của đất nước, mà là tuổi trẻ, máu thịt, nước mắt, tình yêu và những cuộc đời đã bị chiến tranh lấy đi rất nhiều điều; rằng khi chúng ta được sống những ngày tháng bình yên, chúng ta đang sống tiếp phần đời mà biết bao người đã không có cơ hội sống trọn và rằng lòng biết ơn không nên chỉ dừng lại ở những lời tưởng niệm, mà phải trở thành cách chúng ta học tập, sống tử tế, có trách nhiệm và biết trân trọng từng ngày bình yên mà mình đang có.

Nếu một ngày nào đó bà không còn nữa, có lẽ sẽ chẳng còn ai kể cho tôi nghe câu chuyện ấy bằng giọng kể chậm rãi và ánh mắt xa xăm như bà từng kể.Nhưng tôi sẽ nhớ.Tôi sẽ nhớ một người ông mà tôi chưa từng được gặp.Tôi sẽ nhớ một người bà đã chờ ông hơn nửa thế kỷ.Tôi sẽ nhớ bốn người con đã lớn lên từ sự tảo tần và hy sinh của mẹ.Và tôi sẽ nhớ rằng giữa những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, có một trang lịch sử rất riêng của gia đình tôi, nơi một người lính ra đi vì Tổ quốc và một người phụ nữ ở lại, lặng lẽ dùng cả cuộc đời mình để giữ trọn lời hứa với người đã đi xa.

Và khi ai hỏi tôi rằng “Thời hoa lửa đã để lại gì cho thế hệ hôm nay?”, tôi sẽ không trả lời bằng những con số hay những mốc thời gian, mà sẽ kể về bà tôi - một người phụ nữ đã chờ hơn năm mươi năm; kể về ông tôi - một người lính đã gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường; kể về bốn người con đã lớn lên từ những tháng ngày thiếu vắng cha; và kể về một lời hứa tưởng như rất nhỏ nhưng đã được gìn giữ bằng cả một đời người. Bởi sau cùng, điều chiến tranh không thể lấy đi chính là tình yêu, lòng thủy chung và niềm tin mà con người dành cho nhau; và điều thế hệ chúng tôi có thể làm để trả lời những hy sinh ấy không phải là sống một cuộc đời thật lớn lao, mà là sống một cuộc đời xứng đáng với những người đã không còn cơ hội để sống tiếp phần đời của mình.

Ông đã đi để đất nước được bình yên.Bà đã ở lại để gia đình không tan vỡ.Còn tôi,tôi sẽ kể lại câu chuyện này để sự hy sinh của ông bà không bao giờ chỉ còn là một ký ức bởi có những người đã đi qua cuộc đời ta mà ta chưa từng kịp gặp, nhưng họ vẫn để lại trong ta một cách sống; có những người đã rời đi từ hơn nửa thế kỷ trước, nhưng tình yêu của họ vẫn đủ sức đi qua thời gian để chạm đến trái tim của một đứa cháu sinh ra trong hòa bình. Và có những lời hứa, dù người hứa không còn trở về, vẫn có thể được giữ trọn không phải bằng một cuộc đoàn tụ, mà bằng một đời người không bao giờ quên.

Tôi kể câu chuyện này không chỉ để nhớ về ông ngoại- một người lính đã gửi lại tuổi trẻ nơi chiến trường mà còn để nhớ về bà, người đã dành hơn nửa thế kỷ âm thầm chờ đợi trong một lời hứa chưa bao giờ nguôi. Tôi mong câu chuyện nhỏ của gia đình mình có thể chạm đến trái tim người đọc, để chúng ta hiểu rằng phía sau những trang sử hào hùng luôn có những con người bình dị đã hy sinh cả một phần đời cho đất nước, để mỗi người trẻ hôm nay biết trân trọng hơn hai chữ “hòa bình”, biết cúi đầu trước những mất mát của thế hệ cha anh và biết sống sao cho xứng đáng với những gì mình đang được nhận. Chúng ta không còn phải bước ra chiến trường bằng súng đạn, nhưng vẫn có một “mặt trận” của riêng mình: học tập, lao động, sống tử tế, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng; dám theo đuổi điều đúng đắn, biết cống hiến thay vì sống ích kỷ, biết dựng xây thay vì thờ ơ,bỏ lỡ nhiều giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Bởi thế hệ trước đã dùng tuổi trẻ để bảo vệ Tổ quốc, còn thế hệ chúng ta phải dùng tuổi trẻ để giữ gìn, xây dựng và làm cho đất nước tốt đẹp hơn. Nếu câu chuyện này khiến cho những người trẻ biết yêu thương ông bà hơn, biết trân trọng từng ngày bình yên hơn và tự hỏi mình có thể làm gì để sống có ích hơn, thì với tôi, ký ức của ông bà đã thực sự được tiếp nối vô cùng ý nghĩa và đầy biết ơn!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn