mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam
Nhóm của chúng tôi được bố trí sống tại một tỉnh miền núi, không xa Hà Nội, trong một tòa nhà bỏ hoang từng là trạm điện, không có cửa sổ hay cửa ra vào. Bên trong là những chiếc giường gỗ với màn chống muỗi. Bên cạnh giường là “máy điều hòa” duy nhất giúp chống chọi với cái nóng – một chiếc quạt bàn Kharkov sản xuất tại Ukraine.Phía dưới thung lũng có một giếng nước với vòi sen nước lạnh. Xung quanh tòa nhà là các khu vực đặt ăng-ten với những cột cao. Trên hai ngọn đồi có hai lô cốt còn sót lại từ thời Pháp thuộc. Chúng rất tiện lợi để làm hầm trú bom. Tường bê tông của chúng dày tới hơn 1,5m. Ban đầu, chúng tôi khá tin tưởng rằng các bức tường này không thể bị xuyên thủng – cho đến khi một quả bom phát nổ ngay bên cạnh một trong các lô cốt, khiến một nửa bức tường đổ sụp đổ. Lúc đó mới thấy rõ: Không có gì bảo vệ được nếu bị trúng trực tiếp.Khi tôi kể lại những điều kiện đó với các cựu binh trong các nhóm khác, họ nói rằng điều kiện của họ vẫn còn thoải mái hơn nhiều. Gần nơi chúng tôi đóng quân là một sân bay quân sự. Trận địa của tiểu đoàn pháo – tên lửa phòng không của chúng tôi cũng nằm gần đó. Vì vậy, chúng tôi thường xuyên bị tấn công bằng bom và hỏa lực từ máy bay.Năm 1972, lực lượng Phòng không- Không quân Việt Nam đã giành được ưu thế trên không, khiến không quân Mỹ phải chịu tổn thất nặng nề. Vào thời điểm đó, khoảng 4.000 máy bay Mỹ đã bị bắn rơi trên bầu trời Việt Nam. Vì vậy, để có thể tiếp tục tấn công, không quân Mỹ buộc phải bay ở độ cao cực thấp. Tại độ cao này, hệ thống tên lửa phòng không S-75 trở nên hoàn toàn vô hiệu. Và chính ZSU-23-4 Shilka là khí tài cực kỳ phù hợp để giải quyết nhiệm vụ này. Vào thời điểm đó, đây là thiết bị khá hiện đại: Nó được trang bị radar, máy tính điều khiển hỏa lực, pháo bốn nòng và có khả năng bắn tự động với độ chính xác rất cao, ngay cả đối với các loại máy bay tốc độ lớn của địch.Tôi có mặt tại Việt Nam vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến. Giai đoạn này chính quyền Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng rút quân khỏi Việt Nam, nhưng trước khi rời đi họ sẽ không để lại bất cứ thứ gì. Và trên thực tế, họ bắt đầu thực hiện điều đó. Đặc biệt, các đợt ném bom dữ dội bắt đầu ngay từ đầu tháng 12-1972. Mỹ đã bắt đầu tiến hành các cuộc oanh tạc mạnh mẽ nhất nhằm vào các mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam – dữ dội nhất trong toàn bộ cuộc chiến.Khi đang công tác tại Hà Nội, tôi đã gặp đúng lúc đội hình chiến đấu của không quân Mỹ bay ngang qua để thực hiện một đợt tấn công quy mô lớn. Trên bầu trời có nhiều máy bay đến mức giống như các vì sao trên bầu trời đêm, không phải ngẫu nhiên mà cuộc không kích này được gọi là “cuộc oanh tạc sao trời”. Dẫn đầu đội hình là các máy bay gây nhiễu, chúng thả xuống một lượng lớn các thiết bị gây nhiễu thụ động đến mức không thể nhìn thấy bầu trời. Đội hình bay tiến rất chậm, giữ đúng thứ tự đội hình chiến đấu và âm thanh ù ù vang vọng một cách đe dọa. Dù các pháo phòng không đã bắn vào giữa đội hình, dù có máy bay bị bắn rơi, đội hình khổng lồ đó vẫn không bị phá vỡ. Không hiểu sao, tôi bỗng nghĩ đến một cuộc tấn công tâm lý. Lần này, thành phố Hà Nội



