Bài viết

MÙI LÚA MỚI TRÊN TUYẾN LỬA

Lào Cai22/05/2026sưu tầm (Tuổi trẻ xã Bảo Thắng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi là Lương Văn Định, sinh năm 1939, quê ở Nghệ An. Tôi là nông dân từ nhỏ, quen với con trâu, cái cày, bờ ruộng và mùi lúa mới. Với tôi, không có mùi nào thân thuộc hơn mùi thóc vừa gặt, phơi dưới nắng, rồi được xay thành gạo trắng. Nhưng trong những năm chiến tranh, hạt lúa không chỉ nuôi gia đình tôi. Nó còn theo những đoàn dân công, những chuyến xe, những đôi vai gầy để ra chiến trường.

Tôi tham gia dân công hỏa tuyến khi đã ngoài ba mươi tuổi. So với nhiều thanh niên trong đoàn, tôi lớn tuổi hơn, có vợ và hai con. Vợ tôi ban đầu lo lắng, bảo: “Ông đi rồi ruộng nhà ai làm?” Tôi nhìn cánh đồng trước mặt, nói: “Ruộng nhà mình còn, nhưng ngoài kia bộ đội cũng cần gạo. Mình góp được gì thì góp.” Vợ tôi im lặng, rồi tự tay gói cho tôi mấy nắm cơm, thêm ít muối lạc.

Đoàn dân công chúng tôi gùi gạo, tải đạn, chuyển hàng qua những cung đường bị đánh phá. Mỗi người một chiếc đòn gánh, một đôi dép cao su, một tấm áo mưa cũ. Ban ngày tránh máy bay, ban đêm đi bộ. Có hôm đường lầy, vai đau rát, chân phồng rộp, nhưng không ai bỏ gùi. Trên vai chúng tôi là gạo, nhưng trong lòng chúng tôi hiểu đó còn là niềm tin của hậu phương gửi ra tiền tuyến.

Trong đoàn có cậu Trần Văn Nhỏ, sinh năm 1953, quê cùng huyện với tôi. Nhỏ mới mười bảy tuổi, người đúng như tên, bé con nhưng nhanh nhẹn. Cậu hay gọi tôi là chú Định, thường xin gánh thay khi thấy tôi mệt. Tôi mắng: “Chú còn khỏe, mày lo thân mày đi.” Cậu cười: “Cháu khỏe như trâu mà chú.” Nụ cười ấy trẻ quá, sáng quá giữa những đêm đường rừng.

Một đêm, chúng tôi phải vượt qua một đoạn đường trống vừa bị bom đánh. Hàng cần chuyển gấp vào kho phía trước. Mỗi người gùi một bao gạo nặng. Trời mưa phùn, đất đỏ dính chặt vào dép. Chúng tôi đi hàng một, cúi thấp người, không ai dám nói lớn.

Khi đoàn đến giữa đoạn trống, máy bay địch bất ngờ quay lại. Pháo sáng bùng lên, soi rõ từng người trên đường. Người chỉ huy hô tất cả tản xuống giao thông hào. Tôi vừa nhảy xuống thì thấy bao gạo của mình bị mắc lại trên bờ. Nếu để đó, bom nổ sẽ làm gạo văng tung tóe, mà phía trước đang cần từng hạt.

Tôi định leo lên kéo bao gạo xuống thì Nhỏ đã lao ra trước. Cậu vừa kéo bao gạo, vừa hét: “Chú Định xuống đi!” Một quả bom nổ gần đó. Đất đá phủ lên tất cả. Khi tôi tỉnh lại, tai ù đặc, mặt đầy bùn. Bao gạo nằm bên cạnh tôi, còn Nhỏ thì bị thương rất nặng.

Tôi ôm cậu vào lòng. Nhỏ mở mắt, thở khó nhọc. Cậu nhìn bao gạo rồi hỏi: “Gạo còn không chú?” Tôi nghẹn ngào gật đầu. Cậu cười rất nhẹ: “Vậy là được. Bộ đội còn có cơm ăn.” Đó là câu cuối cùng cậu nói.

Chúng tôi chôn Nhỏ bên một gốc cây ven đường. Trong chiếc túi nhỏ của cậu có một nắm thóc quê, chắc mẹ cậu bỏ vào để lấy may. Tôi lấy nắm thóc ấy rải quanh mộ. Tôi nghĩ, biết đâu mai này nơi đây mọc lên vài cây lúa, để cậu được nghe lại mùi quê hương.

Chuyến hàng ấy vẫn được chuyển đến kho. Khi giao bao gạo, tôi nhìn những hạt gạo trắng bên trong, nước mắt cứ rơi. Tôi thấy trong mỗi hạt gạo có dáng cậu Nhỏ, có đôi vai gầy của dân công, có mồ hôi của người cấy lúa, có cả máu của những người ngã xuống trên đường vận chuyển.

Sau hòa bình, tôi trở về quê tiếp tục làm ruộng. Mỗi mùa gặt, khi nâng nắm lúa mới lên ngửi, tôi lại nhớ đến cậu Nhỏ. Tôi nhớ câu nói cuối cùng của cậu, nhớ nụ cười của một chàng trai mười bảy tuổi đã coi bao gạo quan trọng hơn mạng sống mình.

Bây giờ con cháu tôi ăn cơm trắng mỗi ngày, đôi khi làm rơi vãi mà không để ý. Tôi không mắng nặng, chỉ kể cho chúng nghe câu chuyện về những bao gạo trên tuyến lửa. Tôi muốn chúng hiểu hạt cơm không chỉ sinh ra từ ruộng đồng, mà còn được giữ bằng lòng người trong những năm tháng khốc liệt.

Với tôi, thời hoa lửa có mùi khói bom, mùi bùn đất, nhưng cũng có mùi lúa mới. Mùi ấy nhắc tôi rằng đất nước này đã đi qua chiến tranh bằng cả súng đạn lẫn hạt gạo, bằng cả người lính ngoài mặt trận lẫn người dân công âm thầm trên những con đường đêm.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn