"Mũi tiến công thứ 6"
Cuối tháng 3-1975, sau khi giải phóng Huế và Đà Nẵng, ta thu được một số máy bay chiến đấu A-37 của địch. Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giao cho Quân chủng Phòng không-Không quân gấp rút huấn luyện, sẵn sàng nhận nhiệm vụ vào thời điểm quyết định. Sau khi nhận được chỉ thị của trên, Bộ tư lệnh Quân chủng lựa chọn Đại đội 4, Trung đoàn 923 thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này. “Ngày 22-4-1975, bốn phi công, gồm: Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Hoàng Mai Vượng và tôi được đưa từ Gia Lâm vào Đà Nẵng để tham gia huấn luyện chuyển loại cấp tốc máy bay A-37”, Đại tá Nguyễn Văn Lục nhớ lại.
Ngay sáng hôm sau, phi đội tổ chức học lý thuyết, tìm hiểu tính năng, tác dụng cùng các trang thiết bị của máy bay A-37. Đây là khóa huấn luyện thần tốc, chỉ gói gọn trong một ngày học lý thuyết và 2,5 ngày thực hành. Khó khăn nhất là toàn bộ ký hiệu trên thiết bị máy bay đều bằng tiếng Anh, trong khi các phi công của ta không biết ngoại ngữ này. “Cái khó ló cái khôn”, sau khi trao đổi, một “sáng kiến” đã được đưa ra: Nguyễn Thành Trung, Trần Văn On và Trần Ngọc Xanh dịch chữ trên các núm, nút công tắc ra tiếng Việt, sau đó viết ra giấy và dán đè lên phần chữ tiếng Anh.
Với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, quyết thắng”. Khoảng 14 giờ ngày 28-4-1975, đồng chí Lê Văn Tri, Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, trực tiếp giao nhiệm vụ cho phi đội. Để giữ bí mật và gây bất ngờ, phi đội tuân thủ nghiêm ngặt "3 quy định": Bay trùng đường bay địch hằng ngày để chúng không nghi ngờ; bay thấp để tránh radar phát hiện; tuyệt đối không dùng hệ thống liên lạc vô tuyến điện.
"Thời điểm ấy, mệnh lệnh “thần tốc” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thấm vào tâm tư, tình cảm, trách nhiệm cả phi đội nên bằng mọi giá, Phi đội Quyết thắng phải thực hiện cho bằng được mệnh lệnh đó". Đúng 16 giờ 17 phút ngày 28-4-1975, phi đội 5 chiếc A-37 được lệnh xuất kích. Phi công Nguyễn Thành Trung người thành thạo địa hình được phân công dẫn đầu, tiếp theo là Từ Đễ số 2, Nguyễn Văn Lục số 3, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On số 4, Hán Văn Quảng số 5, mỗi máy bay mang 4 quả bom. Sau khi xuất kích, phi đội bay dọc theo bờ biển, đến ngã ba sông Sài Gòn vòng phải, hướng về sân bay Tân Sơn Nhất. Khi còn cách mục tiêu khoảng 20km, các số thực hiện kéo dài đội hình, mỗi số cách nhau từ 600-800m và lấy độ cao lên 2.000m. Tiếp đó lần lượt từng chiếc bổ nhào vào không kích mục tiêu, phi đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, ném 18 quả bom trúng mục tiêu, cả sân bay như một biển lửa, những cột khói đen cao ngất cuồn cuộn bốc lên.
Trận đánh kết thúc, toàn phi đội thoát ly bay về hạ cánh xuống Thành Sơn thì trời đã xẩm tối. "Bước ra khỏi máy bay, chúng tôi liền ôm lấy nhau mà hét to: Chiến thắng rồi, chiến thắng rồi! Tiếng hô khiến Tư lệnh Lê Văn Tri vừa nhìn thấy chúng tôi đã nghiêm giọng nhắc nhở: "Tất cả giữ kỷ luật chiến trường!", rồi cũng không thể kìm nén được niềm vui. Ông đã chạy ào ra, ôm hôn từng phi công trong niềm xúc động rưng rưng", Đại tá cựu phi công Nguyễn Văn Lục tự hào kể.
Trong trận này, Phi đội Quyết thắng đã phá hủy 24 chiếc máy bay, 39 xe quân sự, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm quân ngụy; sân bay Tân Sơn Nhất bị tê liệt hoàn toàn.
Sau ngày đất nước thống nhất, Phi đội trưởng Nguyễn Văn Lục tiếp tục tham gia làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng rồi về tham gia công tác huấn luyện, giảng dạy, đào tạo các thế hệ phi công quân sự "vừa hồng vừa chuyên", đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ bầu trời Tổ quốc.


