Bài viết

Mười ba năm ở Pháp và lời hẹn trở về dựng một ngành y

Năm 1946, sau hơn 13 năm học tập và làm việc tại Pháp, bác sĩ Trần Hữu Tước từ bỏ cuộc sống ổn định để theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước. Từ một bệnh khoa nhỏ giữa chiến khu, ông xây dựng đội ngũ chuyên môn, mạng lưới điều trị và đặt nền móng cho Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương.

Hà Nội22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mùa thu năm 1946, khi con tàu đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh rời nước Pháp, trong đoàn người trở về Việt Nam có một bác sĩ trẻ tên Trần Hữu Tước.

Ông đã sống ở Pháp hơn 13 năm, được đào tạo chuyên sâu và có điều kiện xây dựng một cuộc đời ổn định tại châu Âu. Nhưng phía trước con tàu không phải một bệnh viện hiện đại đang chờ đón. Việt Nam khi ấy vừa giành được độc lập, ngân khố thiếu thốn và nguy cơ chiến tranh đã ở rất gần.

Trần Hữu Tước hiểu rõ điều mình lựa chọn.

Ông sinh năm 1913. Sau một thời gian dài học tập và làm việc tại Pháp, ông có kiến thức chuyên môn về tai mũi họng, một ngành y khoa khi ấy còn rất mới đối với Việt Nam. Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, người bác sĩ trẻ đã có cơ hội gặp Người và nghe lời kêu gọi trí thức Việt Nam trở về xây dựng đất nước.

Cùng chuyến trở về còn có kỹ sư Phạm Quang Lễ, sau này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên là Trần Đại Nghĩa, và kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân.

Mỗi người mang theo một lĩnh vực chuyên môn. Trần Đại Nghĩa góp sức xây dựng ngành quân giới. Võ Quý Huân nghiên cứu luyện kim và tổ chức sản xuất. Trần Hữu Tước trở về với hành trang của một thầy thuốc.

Chỉ ít lâu sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

Các trường học, bệnh viện và cơ quan trung ương phải rời Hà Nội lên chiến khu hoặc phân tán về những vùng an toàn. Máy móc y tế rất thiếu. Thuốc men khan hiếm. Nhiều cơ sở điều trị chỉ là những căn nhà tranh, lán tre hoặc phòng bệnh được dựng tạm giữa rừng.

Chuyên ngành tai mũi họng tưởng như không phải ưu tiên cấp bách nhất trong chiến tranh. Nhưng thực tế chiến trường đặt ra hàng loạt vấn đề: chiến sĩ bị tổn thương vùng đầu, mặt và cổ; người dân mắc viêm tai nặng nhưng không có điều kiện điều trị; những ca nhiễm trùng từ tai có thể lan lên não và cướp đi tính mạng.

Nếu không xây dựng được một chuyên ngành độc lập, nhiều bệnh nhân sẽ không có cơ hội được cứu chữa đúng phương pháp.

Trần Hữu Tước bắt đầu từ những điều kiện rất ít ỏi.

Trong kháng chiến chống Pháp, khoa tai mũi họng do ông gây dựng chỉ có khoảng 20 đến 30 giường bệnh, phải di chuyển qua nhiều địa điểm thuộc Liên khu III, Liên khu IV và chiến khu Việt Bắc. Mỗi lần đơn vị chuyển nơi ở, cán bộ y tế lại đóng gói dụng cụ, thuốc men và tài liệu chuyên môn để mang theo.

Phòng khám có thể thay đổi, nhưng công việc điều trị không được phép dừng.

Không chỉ trực tiếp chữa bệnh, Trần Hữu Tước còn đào tạo cán bộ. Ông hiểu rằng một bác sĩ giỏi không thể chăm sóc người bệnh trên cả nước nếu không có đội ngũ kế tục. Vì vậy, bên cạnh giường bệnh, những lớp học chuyên môn được mở cho y sĩ và nhân viên y tế.

Học viên vừa học lý thuyết, vừa theo dõi ca bệnh và thực hành bằng những dụng cụ sẵn có. Khi thiếu mô hình, người thầy dùng hình vẽ. Khi thiếu sách, ông hệ thống lại kiến thức thành bài giảng. Kinh nghiệm từ Pháp được điều chỉnh để phù hợp với bệnh tật, khí hậu và điều kiện của người Việt Nam.

Năm 1953, Chính phủ và Bộ Y tế thành lập Bệnh khoa Tai Mũi Họng tại An toàn khu Trung ương ở Việt Bắc, giao bác sĩ Trần Hữu Tước phụ trách. Đây là một trong những dấu mốc đặt nền móng cho việc phát triển chuyên ngành tai mũi họng và phẫu thuật đầu, mặt, cổ tại Việt Nam.

Sau năm 1954, Trần Hữu Tước trở về Hà Nội.

Chiến tranh để lại hệ thống y tế thiếu thốn, nhưng cũng để lại một đội ngũ đã được rèn luyện trong những điều kiện khó khăn nhất. Từ nền tảng ấy, ông tiếp tục xây dựng khoa tai mũi họng tại Bệnh viện Bạch Mai, đào tạo bác sĩ và phát triển mạng lưới chuyên môn trên toàn miền Bắc.

Năm 1955, ông được phong học hàm Giáo sư.

Ông nghiên cứu nhiều bệnh gắn với thực tế Việt Nam như ung thư vòm họng, ung thư thanh quản, viêm tai và xương chũm ở trẻ nhỏ, áp-xe não do biến chứng từ tai, bệnh điếc ở trẻ em và dị ứng tai mũi họng. Mục tiêu của ông không phải sao chép nguyên vẹn mô hình nước ngoài, mà xây dựng một nền y học vừa tiếp cận trình độ quốc tế, vừa giải quyết đúng bệnh tật của người Việt Nam.

Từ năm 1958 đến năm 1969, Giáo sư Trần Hữu Tước đảm nhiệm cương vị Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Đây cũng là giai đoạn miền Bắc bước vào cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân. Bệnh viện vừa khám chữa bệnh, vừa tổ chức sơ tán và chuẩn bị cứu chữa nạn nhân trong các đợt đánh phá.

Ngày 14 tháng 7 năm 1969, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Quyết định số 111/CP thành lập Viện Tai Mũi Họng. Giáo sư Trần Hữu Tước trở thành Viện trưởng đầu tiên.

Từ bệnh khoa nhỏ giữa chiến khu với vài chục giường, Việt Nam đã có một viện chuyên ngành cấp trung ương.

Đằng sau bước phát triển ấy là hơn hai thập niên đào tạo, nghiên cứu và chữa bệnh liên tục của một người từng có thể lựa chọn ở lại Pháp. Trần Hữu Tước đã đổi một cuộc sống đầy đủ hơn lấy những năm tháng chuyển bệnh viện qua rừng, giảng bài trong thiếu thốn và gây dựng từng thế hệ bác sĩ.

Ngày nay, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương là cơ sở tuyến cuối của cả nước về chuyên ngành tai mũi họng và phẫu thuật đầu cổ. Trong lịch sử bệnh viện, tên Giáo sư Trần Hữu Tước được ghi nhận là người đặt nền móng cho ngành.

Câu chuyện của ông không kết thúc ở chuyến tàu năm 1946. Giá trị lớn nhất của sự trở về nằm ở những gì ông đã kiên trì xây dựng sau đó: một bệnh khoa trở thành bệnh viện, một nhóm cán bộ trở thành mạng lưới chuyên môn và kiến thức của một cá nhân trở thành tài sản của nhiều thế hệ thầy thuốc.

Hơn 13 năm ở Pháp đem lại cho Trần Hữu Tước một nghề nghiệp. Nhưng quyết định trở về đã giúp ông tạo dựng cả một ngành y cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn