MƯỜI CÔ GÁI NAM HỒ
Chiến tranh ngày càng lùi xa. Dấu tích đạn bom đã phai mờ như vết thương lành theo năm tháng. Có những sự kiện từng hiển diện một thời rồi cũng chìm vào quên lãng. Nhưng ở đâu đó, những câu chuyện trong chiến tranh bị khuất lấp theo thời gian, thi thoảng lại xuất hiện như vẫn còn mới nguyên, hằn sâu vào nỗi nhớ. Trên mảnh đất Vĩnh Linh tuyến lửa, mỗi địa danh đều thấm đẫm chất anh hùng ca, có những chuyện tưởng như huyền thoại. Bài viết này nhắc đến 10 cô gái, 10 nữ dân quân dũng cảm và cũng là
Chiến tranh ngày càng lùi xa. Dấu tích đạn bom đã phai mờ như vết thương lành theo năm tháng. Có những sự kiện từng hiển diện một thời rồi cũng chìm vào quên lãng. Nhưng ở đâu đó, những câu chuyện trong chiến tranh bị khuất lấp theo thời gian, thi thoảng lại xuất hiện như vẫn còn mới nguyên, hằn sâu vào nỗi nhớ. Trên mảnh đất Vĩnh Linh tuyến lửa, mỗi địa danh đều thấm đẫm chất anh hùng ca, có những chuyện tưởng như huyền thoại. Bài viết này nhắc đến 10 cô gái, 10 nữ dân quân dũng cảm và cũng là 10 xã viên đảm đang ở Hợp tác xã Nam Hồ, thuộc xã Vĩnh Nam, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thời chống Mỹ cứu nước mà tuổi xuân của họ nhuốm màu khói lửa đạn bom. Họ là những chiến sĩ dân quân trực tiếp cầm súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu với không quân Mỹ ngay trên quê hương mình. 10 cô gái Nam Hồ thuở ấy đều ở lứa tuổi mười bảy, đôi mươi, dù có chồng hoặc chưa chồng, đều tình nguyện “Ba sẵn sàng” và “Ba đảm nhiệm”. Các cô là những đoàn viên ưu tú, đảng viên gương mẫu, đều là phụ nữ “5 tốt”, được tặng danh hiệu thanh niên “Điện Biên - Ấp Bắc”.
Sau “Sự kiện Vịnh Bắc bộ” ngày 5 tháng 8 năm 1964, Đế quốc Mỹ tuyên chiến đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Lịch sử của đất nước không thể nào quên thời điểm 14 giờ 30 phút ngày mùng 8 tháng 2 năm 1965, Đế quốc Mỹ cho không quân ô ạt ném bom tàn sát khu vực Vĩnh Linh, mở đầu cuộc chiến tranh leo thang ra miền Bắc. Với 82 lượt máy bay gồm F4, AD6, chia thành 14 tốp thì nhau trút bom không ngớt xuống thị trấn Hồ Xá – Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của khu vực Vĩnh Linh. Liên tiếp sau đó, cả Vĩnh Linh chìm trong biển lửa. Các cơ sở quốc doanh, trường học, bệnh viện, Đài Anh hùng, kho tàng... trên đất Hồ Xá bị bom đạn huỷ diệt. Các cơ quan đầu não của khu vực Vĩnh Linh phải rời Hồ Xá, chuyển đến đóng tại vùng ngoại vi thị trấn thuộc thôn Nam Phú, xã Vĩnh Nam. Trong những năm 1965-1968, phát hiện Vĩnh Nam là địa bàn rất quan trọng, máy bay địch ngày đêm oanh tạc dữ dội. Khi có máy bay Mỹ bắn phá, 10 cô gái sẵn sàng chiến đấu và phục vụ bộ đội phòng không đánh trả không quân Mỹ. Trong các trận đánh máy bay quyết liệt, bất kể ngày hay đêm, các cô đều có mặt tại trận địa phục vụ chiến đấu, bất chấp bom đạn hiểm nguy. Mỗi cô có mỗi hoàn cảnh riêng, tính cách riêng nhưng đều có chung nhiệm vụ: “Giặc đến là đánh, giặc đi lại sản xuất”. Bom đạn Mỹ dội xuống mảnh đất Vĩnh Linh ngày càng ác liệt. Đội ngũ báo chí trong nước đã đến mảnh đất rực lửa này để đưa tin chiến sự. Trên các phương tiện truyền thông liên tục nói đến khu vực Linh - Tuyến đầu miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang ngày đêm đối đầu với đạn bom huỷ diệt của quân xâm lược. Trong hàng loạt bài viết và nhiều phóng sự ảnh phản ánh về mảnh đất tuyến lửa, có bài: “Mười cô gái Vĩnh Linh dũng cảm” của Kim Uỷnh, phóng viên báo Thống Nhất Vĩnh Linh đăng trên báo Nhân Dân ngày 29/5/1965 nói về 10 cô gái Nam Hồ, thuộc Tiểu đội nữ dẫn quân thôn Nam Phú, Hợp tác xã Nam Hồ, xã Vĩnh Nam. Bác Hồ đọc báo, đã gửi Huy hiệu của Người tặng cho 10 cô gái để động viên, khích lệ. Bây giờ nhớ lại, các chị không khỏi bồi hồi, xúc động. Bao nhiêu kỷ niệm ùa về, nghẹn ngào không tả xiết.... Chị Trần Thị Xu là Tiểu đội trưởng Tiểu đội nữ dân quân. Khi máy bay giặc đến, chị chạy đi vận động bà con nấu nước và trực tiếp gánh nước ra trận địa, rồi ở lại phục vụ lau đạn, tiếp đạn cho bộ đội. Chị cùng chị em trồng rau để cung cấp cho các đơn vị quân đội đóng tại địa bàn. Chị Nguyễn Thị Hiệt, đảng viên, Tiểu đội phó dân quân, cùng chị Trần Thị Xu tiếp nước cho bộ đội. Nguyễn Thị Hiệt còn vác đạn đến trận địa phòng không ở xa. Bom đạn xối xả như mưa, Hiệt bình tĩnh lấy lá nguỵ trang hòm đạn, khéo léo lợi dụng địa hình địa vật để kịp mang đạn đến cho bộ đội. Tối đi đào công sự, sáng đi gặt lúa, có máy bay là chị nhanh chóng cùng các cô trong tiểu đội trở lại trận địa để phục vụ chiến đấu. Có những trận, máy bay địch dội bom, nhà dân cháy, Nguyễn Thị Hiệt cùng Nguyễn Thị Thĩ leo lên mái nhà dập lửa trong lúc bom đạn chưa dứt. Chị Đoàn Thị Đĩu, con gái đồng chí chủ nhiệm hợptác xã, là một nữ dân quân năng nổ cùng các chị trong tiểu đội làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu như lau đạn, chuyển đạn, tiếp nước uống ra trận địa... quên cả thời gian. Nhiều lần chị say sưa làm nhiệm vụ quên cả ăn, tối đi đào công sự, đến sáng mới về ăn cơm rồi đi gặt luôn. Chị Nguyễn Thị Vòng từng làm việc ở công trường thuỷ lợi La Ngà. Khi công trường hoàn thành, chị về quê hương sản xuất. xây dựng hợp tác xã. Chị là một dân quân gan dạ. Có lần, chị đang chuyển đạn thì một quả bom tạ nổ hất văng ra xa. Khi tỉnh lại, chị bò về nhà lấy túi thuốc cấp cứu rồi chạy theo đồng đội cứu nhà dân bị cháy và người bị thương. Khi về thì chị mới biết nhà mình đã bị cháy. Chuyện gia đình tạm gác lại, chị cùng đồng đội đến ngay trận địa phục vụ chiến đấu với bộ đội. Năm 1967, chị đảm nhận cương vị Trung đội trưởng dân quân thôn Nam Phú. Biết nhu cầu rau cho bộ đội là rất cần nên khi về nhà, chị lại chăm sóc rau xanh và trồng thêm rau, quả để cung cấp bữa ăn của chiến sĩ đảm bảo chất lượng. Các chị Lê Thị Hớn, Nguyễn Thị Hoè, Nguyễn Thị Định đều là học sinh tốt nghiệp lớp 7, tình nguyện ở lại quê hương sản xuất, xây dựng hợp tác xã, gia nhập Tiểu đội nữ dân quân Nam Phú. Khi máy bay địch đánh phá, Hoè và Định xung phong làm cấp dưỡng để thay ba anh nuôi của đơn vị bộ đội ra làm nhiệm vụ pháo thủ. Hai chị còn vận chuyển đạn đến trận địa ở xa. Có lần, hai chị khiêng một hòm đạn nặng, máy bay ném bom bốn bề, hai chị bảo nhau: “Có chết một đứa, còn sống một đứa cũngquyết kéo bằng được hòm đạn cho bộ đội bắn máy bay giặc Mỹ”. Còn Lê Thị Hớn làm nhiệm vụ cứu thương của hợp tác xã, ở đâu có bom nổ là chị có mặt kịp thời làm nhiệm vụ cấp cứu. Chị còn xung phong tiếp nước cho các trận đị ., vận chuyển đạn cho bộ đội khi máy bay gầm rú trên để u, nhiều lần bom nổ cận kề nhưng không hề nao núng. Lúc vắng máy bay, các chị là những xã viên đảm đang tăng gia sản xuất, trồng rau xanh tiếp tế cho bộ đội. Khi máy bay xuất hiện, các chị trở thành chiến sĩ anh dũng, kiên cường, băng mình trong đạn lửa phục vụ chiến đấu. Các chị Nguyễn Thị Thĩ, Nguyễn Thị Lệnh (đảng viên), Lê Thị Thẽo đều là cán bộ xã. Mặc dù bận công tác nhưng hai chị Thĩ và Lệnh vẫn cùng tiểu đội phục vụ chiến đấu. Bước chân các chị thoăn thoắt khắp chiến hào, không lúc nào biết đến nghỉ ngơi. Còn chị Thẽo là nữ hộ sinh của xã, làm nhiệm vụ cứu thương. Cũng như chị Hớn, những nơi bom đạn địch trút xuống thì chị Thẽo kịp thời có mặt để cứu thương và cùng chị em trong tiểu đội chữa cháy kho lương thực, thực phẩm, vũ khí của quân đội...
quyết kéo bằng được hòm đạn cho bộ đội bắn máy bay giặc Mỹ”. Còn Lê Thị Hớn làm nhiệm vụ cứu thương của hợp tác xã, ở đâu có bom nổ là chị có mặt kịp thời làm nhiệm vụ cấp cứu. Chị còn xung phong tiếp nước cho các trận đị ., vận chuyển đạn cho bộ đội khi máy bay gầm rú trên để u, nhiều lần bom nổ cận kề nhưng không hề nao núng. Lúc vắng máy bay, các chị là những xã viên đảm đang tăng gia sản xuất, trồng rau xanh tiếp tế cho bộ đội. Khi máy bay xuất hiện, các chị trở thành chiến sĩ anh dũng, kiên cường, băng mình trong đạn lửa phục vụ chiến đấu. Các chị Nguyễn Thị Thĩ, Nguyễn Thị Lệnh (đảng viên), Lê Thị Thẽo đều là cán bộ xã. Mặc dù bận công tác nhưng hai chị Thĩ và Lệnh vẫn cùng tiểu đội phục vụ chiến đấu. Bước chân các chị thoăn thoắt khắp chiến hào, không lúc nào biết đến nghỉ ngơi. Còn chị Thẽo là nữ hộ sinh của xã, làm nhiệm vụ cứu thương. Cũng như chị Hớn, những nơi bom đạn địch trút xuống thì chị Thẽo kịp thời có mặt để cứu thương và cùng chị em trong tiểu đội chữa cháy kho lương thực, thực phẩm, vũ khí của quân đội...
10 cô gái như mười bông hoa đẹp xông pha trong lửa đạn giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất mà mỗi khi nhắc đến, bà con làng xóm cùng thời lại say sưa kể về họ với tình cảm yêu mến, cảm phục. Mỗi người một hoàn cảnh, có người còn bươn chải với cuộc sống không mấy suôn sẻ. Cũng xin nói thêm, trong tiểu đội nữ dân quân ngày ấy, chị Nguyễn Thị Hiệt có một giai đoạn làm Chủ tịchUBND xã Vĩnh Nam, sau đó lên làm cán bộ Hội Phụ nữ huyện rồi nghỉ hưu. Chị Lê Thị Hớn sau khi nhận được Huy hiệu của Bác Hồ, năm 1966 hãng hái tình nguyện gia nhập quân đội thuộc đơn vị điều trị DT 43 – Mặt trận B5 Liên tục hai năm 1968-1969, chị đạt danh hiệu chiến số thi đua, đến năm 1970 xuất ngũ. Nữ chiến sĩ Lê Thị Hớn vẫn giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ, vững vàng trong xây dựng quê hương và cuộc sống gia đình. Chỉ Nguyễn Thị Định lấy chồng ở xã Vĩnh Kim. Chị Nguyễn Thị Lệnh lấy chồng ở xã Vĩnh Trung, sau này theo chồng vào sinh sống tại thành phố Đông Hà. Trong một lần đang cùng tiểu đội làm nhiệm vụ tiếp đạn cho bộ đội, bom nổ, chị Nguyễn Thị Thĩ anh dũng hy sinh. Các chị Nguyễn Thị Định, Lê Thị Thẽo, Trần Thị Xu cũng đã mất. Những chị còn sống vẫn nhớ về nhau, khi có dịp lại tìm nhau để chia sẻ buồn vui cuộc đời, động viên nhau sống vui, sống khoẻ. Vang bóng thời thanh nữ được cất giữ trong sâu thẩm của trái tim lại ngân lên, bâng khuâng da diết khi nhớ lại kỷ niệm xưa. Các chị không thể nào quên khi Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin về 10 cô gái Nam Hồ được Bác Hồ gửi tặng Huy hiệu của Người, cả xã Vĩnh Nam xôn xao, phấn khởi. Sau khi nghe thông tin đó, đảo Cồn Cỏ có 10 chiến sĩ viết thư kết nghĩa với 10 cô gái được đài nếu tên. Đảo đã cử một đồng chí chỉ huy mang thư và quả của 10 chiến sĩ đến Vĩnh Nam để trao tận tay 10 cô gái. Các chị nhận được thư và quà, rất bất ngờ và vô cùng xúc động. Những chiến sĩ ở đảo có thư kết nghĩa đều là thanh niên chưa vợ. Những dòng thư từ các chị gửi đi đãsưởi ấm tấm lòng chiến sĩ nơi đảo xa vơi đi nỗi nhớ nhà. Có những lời hẹn ước trong những cánh thư. Và có sự nhớ nhung, trông ngóng! Thư qua lại giữa đất liền với đảo nhưng các anh các chị chưa một lần được gặp mặt nhau. Trong những bức thư viết vội giữa hai trận đánh, các anh chỉ nói về cuộc sống gian khổ trên đảo, không thấy nói đến quê quán. Trong số 10 chiến sĩ ấy, có người đã hi sinh. Cuộc chiến chuyển sang giai đoạn khốc liệt, căng thẳng, thư từ đảo đến đất liền thưa dần, thưa dần...rồi mất hẳn. Các chị mong đợi những cánh thư từ đảo xa, nhưng càng chờ càng vắng. Mỗi lần nghe tin chiến sự ở đảo Cồn Cỏ, các chị lo lắng, trong lòng ngổn ngang bao suy nghĩ. Nếu như ngày đó, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ thì có thể sau này sẽ có những cặp nên duyên chồng vợ. Cho đến hôm nay, những cô gái Nam Hồ ngày ấy hiện đang sống vẫn nhớ về các anh. Các chị mong muốn được một lần gặp người trong mộng cho thoả niềm khát khao, chờ đợi... Dù tuổi cao sức yếu, các chị vẫn như thấy mình sống lại tuổi thanh xuân. Đó là đội quân tóc dài gan dạ, trung kiên, để lại niềm tự hào cho quê hương Vĩnh Nam anh hùng một thời vang dội chiến công đi vào sử sách. Chuyện 10 cô gái Nam Hồ giai đoạn chống Mỹ cứu nước ác liệt diễn ra trên mảnh đất Vĩnh Linh luỹ thép cách đây đã hơn 50 năm. Ai nhớ, ai quên cũng đành, bởi chuyện của những tháng năm xưa đang lùi vào quá khứ. Nhưng tuổi thanh xuân của họ đã dành trọn cho quê hương, đất nước vẫn còn tươi rói trong ký ức bao người. Trách nhiệm của các thế hệ sau không được lãng quên!


