MƯỜI CÔ GÁI NGÃ BA ĐỒNG LỘC: HUYỀN THOẠI BẤT TỬ NƠI TỌA ĐỘ LỬA
Nguyễn Thu Thủy

Ngã ba Đồng Lộc (nay thuộc thị trấn Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) nằm trên con đường chiến lược Quốc lộ 15A. Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, nhu cầu chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam ngày càng cấp thiết. Trong khi đó, Quốc lộ 1A liên tục bị không quân Mỹ đánh phá nặng nề nên hầu hết các đoàn xe vận tải đều phải chuyển hướng qua Quốc lộ 15A.
Điều đó đồng nghĩa với việc Ngã Ba Đồng Lộc trở thành "yết hầu giao thông", là điểm nối vô cùng quan trọng giữa hậu phương miền Bắc và tiền tuyến miền Nam. Nhận thấy vị trí chiến lược đặc biệt ấy, đế quốc Mỹ đã tập trung đánh phá nơi đây bằng sức mạnh khủng khiếp của không quân và hải quân. Chỉ tính riêng từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, Mỹ đã thực hiện hơn 2.000 trận ném bom xuống Đồng Lộc với gần 50.000 quả bom các loại. Có những ngày, máy bay Mỹ đánh phá hơn 100 lượt. Có những tháng, gần như không ngày nào Đồng Lộc được yên tiếng bom. Bom chồng lên bom. Hố bom chồng lên hố bom. Mặt đất bị cày xới đến mức không còn nhận ra hình dạng ban đầu.
Người ta thống kê rằng trung bình mỗi mét vuông đất nơi đây phải gánh chịu hơn ba quả bom. Nếu đứng ở vị trí này vào mùa hè năm 1968, quý vị sẽ không nhìn thấy màu xanh của cây lá như hôm nay mà chỉ thấy đất đá tung lên mù mịt, tiếng bom nổ rung chuyển cả núi rừng. Mỹ muốn biến Đồng Lộc thành "điểm chết", thành nơi không còn sự sống và không còn một chuyến xe nào có thể đi qua. Nhưng điều họ không ngờ tới là ở nơi đây có hàng vạn con người sẵn sàng lấy thân mình để giữ đường. Đường hỏng thì sửa. Hố bom thì lấp. Bom vừa ngớt là con người lại xuất hiện.
Có thời điểm hơn 16.000 người đã sống, chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại Đồng Lộc. Họ sống với tinh thần: "Tim có thể ngừng đập, nhưng đường không thể tắc." Và trong hàng vạn con người ấy, có mười cô gái thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng bất tử của tuổi trẻ Việt Nam.
Đây là nơi khiến bất cứ ai khi đặt chân đến cũng phải lặng người xúc động. Mười cô gái thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, Tổng đội 55 Thanh niên xung phong Hà Tĩnh. Gồm 10 nữ thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ, từ 17 đến 24 tuổi: Võ Thị Tần (24 tuổi, Tiểu đội trưởng), Hồ Thị Cúc (24 tuổi, Tiểu đội phó), Nguyễn Thị Nhỏ (24 tuổi), Dương Thị Xuân (21 tuổi), Võ Thị Hợi (20 tuổi), Nguyễn Thị Xuân (20 tuổi), Hà Thị Xanh (19 tuổi), Trần Thị Hường (19 tuổi), Trần Thị Rạng (18 tuổi), Võ Thị Hà (17 tuổi). Ở độ tuổi mà ngày nay nhiều bạn trẻ còn đang ngồi trên ghế nhà trường, các chị đã rời gia đình, gác lại những ước mơ riêng để đến với chiến trường.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Công việc của các chị vô cùng nguy hiểm. Ban ngày quan sát máy bay địch. Ban đêm phá bom, lấp hố bom, sửa đường và dẫn đường cho xe ra mặt trận. Có những đêm tối đen như mực. Các chị mặc áo trắng, đứng thành hàng hai bên đường để làm cọc tiêu sống cho xe đi qua. Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, các chị vẫn luôn lạc quan yêu đời. Tiêu biểu nhất là bức thư của chị Võ Thị Tần – Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4 gửi về cho mẹ chỉ năm ngày trước khi hy sinh. Trong thư, chị viết:
“Mẹ ạ, thằng Mỹ còn hung hăng thì còn nhiều chuyện để kể cho mẹ nghe về sự thất bại của chúng trên mảnh đất nhỏ kiên cường này. Mẹ ơi! Thời gian này địch đánh phá ác liệt nhưng bọn con vẫn tập được nhiều bài hát mới. Quyển sổ tay mẹ gửi cho con dạo nọ đã gần hết rồi mẹ nhớ gửi thêm cho con ít giấy nữa nhé.
Mẹ, mới về thăm mẹ đó mà sao con thấy nhớ mẹ quá. Con mong mẹ giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều.”
Đó là một đoạn trong bức thư mà chị Tần đã viết gửi về cho mẹ ở quê nhà. Và riêng người mẹ của chị Tần lại không ngờ được rằng đây cũng chính là lời tiễn biệt cuối cùng của người con gái có thể gửi về cho mẹ từ chiến trường để rồi năm ngày sau đó, người con gái bé nhỏ của mẹ cùng chín người con gái khác đã mãi mãi nằm lại Ngã Ba Đồng Lộc để bảo vệ cho mạch máu giao thông luôn chảy về Nam
Đó không chỉ là lời của chị Tần, đó là lời thề của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam.
Và rồi ngày 24 tháng 7 năm 1968 định mệnh đã đến.
Buổi trưa hôm ấy, khi đang chuẩn bị bữa cơm, Tiểu đội 4 nhận lệnh khẩn cấp ra san lấp hố bom tại trọng điểm Đồng Lộc.
Không ai chần chừ, không ai lùi bước. Mười cô gái nhanh chóng khoác cuốc, xẻng lên vai và tiến về trọng điểm. Suốt nhiều giờ liền, máy bay Mỹ liên tục quần thảo trên bầu trời. Bom vừa nổ xong. Các chị lại lao ra mặt đường. Đào đất. Đẩy xe cút kít. San lấp hố bom. Giữ cho tuyến đường luôn thông suốt. Khoảng 16 giờ 30 phút chiều ngày 24 tháng 7 năm 1968. Trong trận đánh thứ 15 của ngày hôm đó. Một loạt bom bất ngờ trút xuống khu vực các chị đang làm nhiệm vụ. Mười cô gái chạy vào căn hầm trú ẩn bên sườn đồi. Nhưng một quả bom đã rơi ngay trước cửa hầm. Tiếng nổ kinh hoàng vang lên. Đất đá đổ sập. Tất cả chìm vào im lặng. Trên đài quan sát, đồng đội chờ mãi không thấy ai bước ra. Mọi người vội lao đến. Khói bom vẫn còn mù mịt. Đồng đội gọi tên từng người. Nhưng không có tiếng trả lời. Chỉ còn lại những chiếc nón, những chiếc cuốc nằm lặng lẽ trên mặt đất. Suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, đồng đội đào bới trong nước mắt. Từng thi hài được tìm thấy. Nhưng vẫn còn thiếu chị Hồ Thị Cúc. Một ngày. Hai ngày. Rồi ba ngày trôi qua. Không ai chịu đưa chín người đồng đội đi an táng trước. Bởi các anh tin rằng phải tìm được chị Cúc để mười chị em được nằm bên nhau. Nhà thơ Yến Thanh, đồng đội của các chị, đã viết bài thơ "Cúc ơi" trong những giờ phút đau đớn ấy: Đến khi nhìn vào chiếc quan tài chị Cúc ông Yến Thanh đã khóc và bằng cả nỗi lòng với những người đồng chí ông đã viết lên bài thơ với hy vọng sẽ kêu gọi được linh hồn chị, bài thơ ấy có tựa đề “Hồn trinh nữ ở đâu” sau này đổi tên thành “ Cúc ơi”:
“Tiểu đội đã xếp một hàng ngang
Cúc ơi em ở đâu sao không về tập hợp?
Chín bạn đã quây quần đủ mặt
Nhỏ - Xuân - Hà - Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
Chín bỏ làm mười răng được!
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em xanh. Áo em thì mỏng!
Cúc ơi! em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước sông Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp năm em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn
Em ở đâu hỡi Cúc?
Đồng đội tìm em
Đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khản cổ cả rồi
Cúc ơi!”
chiều tối của ngày thứ ba không hiểu sao sự linh thiêng của mười cô gái, hay là chị Cúc đã hiểu được nỗi lòng của đồng đội mà ngày hôm đó mọi người đã tìm thấy thi hài của chị Hồ Thị Cúc cũng trong căn hầm ấy. Nhưng chị lại bị vùi sâu dưới hầm, do chị bị vùi sâu dưới hầm nên khi tìm kiếm thi hài đồng đội lại chủ yếu dùng bàn tay của mình để đào bới từng tấc đất là chính cho nên họ đã không đoán ra và không tìm thấy chị Cúc. Chiều tối của ngày hôm đó lúc tìm được thi hài mọi người kể lại chị Hồ Thị Cúc vẫn còn đang trong tư thế ngồi xổm trên đầu đội nón lệch sang một bên,còn đầu mười ngón tay đã bị rách bầm, máu đã khô. Khi nhìn vào đôi bàn tay của chị đồng đội dự đoán trong thời điểm bom nổ hầm sập xuống khoảnh khắc ấy do chị Cúc ở sâu trong căn hầm nên đã chịu sức ép nặng nhất và chị vẫn đang còn sống, chị đang sống và cố dùng 10 đầu ngón tay của mình để cào bới đất đi ra niềm hy vọng cuối cùng của sự sống. Nhưng do sâu quá đất dày quá nên chị Cúc đào mãi bới mãi rách cả 10 đầu ngón tay kiệt sức rồi chị đã nằm lại ở đây. Sau khi tìm thấy được thi hài của chị Cúc những người đồng đội đưa chị về quây quần bên chín người đồng đội của mình và bắt đầu lễ an táng truy điệu cho 10 cô gái thanh niên xung phong bằng 10 chiếc quan tài thời chiến, lễ truy điệu diễn ra trong sự đau thương vô hạn của tất cả những người đồng đội. Còn trong lúc đó trên bầu trời Đồng Lộc lúc ấy máy bay giặc vẫn đang tiếp tục quật lượn và bom vẫn cứ tiếp tục rơi.
Và từ đó, các chị đã hóa thành những đóa hoa bất tử của dân tộc Việt Nam.

10 đóa hoa mười tám, đôi mươi. Nguồn: Báo Phụ nữ Việt Nam
Nguồn tư liệu: Tổng hợp từ Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc, Ban Quản lý Khu di tích & Lịch sử lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam.


