Cựu chiến binh

Mười lăm lít thuốc gây mê mỗi tháng từ xưởng dược bên đình làng

Chứng kiến thương binh phải chịu đau vì thiếu thuốc gây mê, dược sĩ Nguyễn Văn Luận cùng hai công nhân trẻ dựng một dây chuyền chưng cất thô sơ, sản xuất những liều ê-te đầu tiên cho các trạm phẫu thuật kháng chiến.

Phú Thọ22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tại một trạm phẫu thuật tiền phương ở Phủ Lý, Hà Nam, dược sĩ Nguyễn Văn Luận nhìn thấy điều khiến ông day dứt mãi: nhiều thương binh cần phẫu thuật nhưng thuốc gây mê đã cạn. Có những ca mổ nhỏ vẫn phải tiến hành trong khi người bị thương hoàn toàn tỉnh táo, cắn răng chịu từng đường dao và từng mũi khâu.

Với người dược sĩ, nỗi đau ấy đặt ra một mệnh lệnh không cần viết thành văn bản: phải tự làm được thuốc gây mê.

Nhưng đó là năm 1948. Cơ sở sản xuất của ngành quân y phải liên tục di chuyển để tránh những cuộc càn quét. Máy móc, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm đều thiếu. Những thứ thông thường như chai thủy tinh, nút lọ hay ống dẫn cũng trở thành vật tư quý giá.

Giữa hoàn cảnh ấy, Nguyễn Văn Luận cùng hai công nhân trẻ Phạm Thiệp và Lại Thanh Hiền bắt đầu tìm cách sản xuất ê-te gây mê.

Nguyễn Văn Luận sinh ngày 13 tháng 6 năm 1913 tại Gia Thụy, Gia Lâm, Hà Nội, trong một gia đình viên chức nghèo nhưng coi trọng việc học. Năm 1944, ông tốt nghiệp dược sĩ cao cấp tại Trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương. Khi ấy, số dược sĩ người Việt được đào tạo ở trình độ này còn rất ít; theo Báo Sức khỏe và Đời sống, trước năm 1945 cả nước chỉ có khoảng 12 người.

Với tấm bằng ấy, Nguyễn Văn Luận có thể xây dựng một cuộc sống ổn định bằng nghề dược. Ông đã mở hiệu thuốc riêng. Nhưng khi quân Pháp mở rộng chiến tranh ở miền Bắc, ông quyết định đóng cửa hiệu, trao số thuốc đang có cho chính quyền cách mạng rồi cùng vợ và con nhỏ lên đường tham gia kháng chiến.

Ông gia nhập Vệ quốc đoàn và được giao xây dựng Viện Bào chế A. Đầu năm 1947, cơ sở đặt tại làng Tẻ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Chiến tranh lan rộng đến đâu, xưởng thuốc lại phải di chuyển đến đó: từ Thái Bình sang Tiên Lữ của Hưng Yên, rồi về Thanh Miện, Hải Dương.

Mỗi lần chuyển địa điểm không đơn giản là đóng gói vài hòm thuốc. Cán bộ, công nhân phải tháo thiết bị, vận chuyển hóa chất, tìm nơi có nguồn nước và dựng lại toàn bộ dây chuyền. Xưởng vừa ổn định sản xuất thì có thể lại nhận lệnh lên đường.

Từ tháng 4 năm 1947, Nguyễn Văn Luận tổ chức làm nhiều loại vật tư và thuốc cần thiết cho quân y. Bông mua trong dân được xử lý thành bông thấm nước. Thạch cao đưa từ Trung Lào về được chế biến thành bột bó xương. Những sản phẩm tưởng như nhỏ bé ấy lại quyết định khả năng cứu chữa thương binh tại các trạm phẫu thuật.

Năm 1948, theo đề nghị của dược sĩ Đỗ Tất Lợi, Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn quyết định thành lập Chi nhánh Liên khu 3–4 thuộc Viện Khảo cứu và Chế tạo dược phẩm. Nguyễn Văn Luận được giao làm trưởng chi nhánh và cấp 800.000 đồng tiền kháng chiến để nghiên cứu, tổ chức sản xuất.

Nhiệm vụ khó khăn nhất là chế tạo ê-te mê.

Muốn có ê-te, trước hết phải có cồn nồng độ cao. Nhưng trong vùng kháng chiến không có nguồn cồn công nghiệp ổn định. Nguyễn Văn Luận cho thu mua loại rượu dân gian khoảng 45 độ, thường được gọi là rượu “cuốc lủi”, rồi thiết kế một tháp chưng cất nhiều tầng bằng tôn để nâng nồng độ lên khoảng 92 độ.

Thiết bị sản xuất ê-te được dựng bên tường một ngôi đình làng. Bình phản ứng không phải dụng cụ nhập khẩu mà là một bình sành. Nút được làm bằng gỗ; những chỗ cần bịt kín sử dụng đất sét nhào với lá khoai môn. Các bộ phận phải lắp ghép từ những thứ cán bộ và công nhân có thể tìm kiếm hoặc tự chế tạo.

Khó khăn không chỉ nằm ở thiết bị. Hóa chất mua được có nhiều tạp chất và phải xử lý trước khi sử dụng. Quá trình tinh chế có thể sinh ra khí độc; còn ê-te lại rất dễ bắt lửa và gây nổ. Xưởng nằm xen giữa nhà dân nên một sơ suất không chỉ đe dọa người trực tiếp sản xuất mà còn gây nguy hiểm cho cả làng.

Nguyễn Văn Luận cùng các cộng sự phải kiểm soát chặt chẽ từng công đoạn, giữ nhiệt độ ổn định và tổ chức nơi làm việc sao cho hạn chế thấp nhất nguy cơ cháy nổ. Trong điều kiện thiết bị thô sơ, đây là một thử thách cả về kiến thức hóa dược lẫn tinh thần trách nhiệm.

Cuối cùng, những giọt ê-te đầu tiên ngưng tụ trong ống dẫn.

Sản phẩm chưa được đưa ngay đến chiến trường. Lô thuốc được gửi đi thực nghiệm để đánh giá chất lượng và độ an toàn. Sau khi nhận kết quả đạt yêu cầu, ê-te mới được đóng vào các lọ nhỏ dung tích 50 mililít và chuyển đến các trạm phẫu thuật.

Ban đầu, xưởng sản xuất được khoảng 15 lít mỗi tháng, tương đương 300 lọ loại 50 mililít. Sau những lần cải tiến thiết bị, công suất được nâng lên 20 lít mỗi tháng. Thuốc không chỉ phục vụ các đơn vị thuộc Liên khu 3 mà còn được gửi tới những chiến trường khác.

Bác sĩ Hoàng Đình Cầu, người phụ trách trạm phẫu thuật mà Nguyễn Văn Luận từng đến thăm, xác nhận ê-te do xưởng sản xuất sử dụng tốt và đề nghị làm thêm để cung cấp cho các mặt trận.

Từ năm 1948 đến năm 1954, cơ sở của Nguyễn Văn Luận liên tục sản xuất trong điều kiện ở lẫn với nhà dân nhưng không xảy ra vụ cháy nổ nào. Đó là một con số đặc biệt có ý nghĩa bởi sản phẩm của họ vừa dễ cháy, vừa dễ bay hơi và có khả năng gây độc.

Người dược sĩ còn áp dụng một tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với những loại thuốc khác. Khi sản xuất canxi clorua dùng để tiêm tĩnh mạch, do không có đủ phương tiện kiểm nghiệm, ông quyết định thử thuốc trên chính cơ thể mình.

Sau lần tiêm đầu tiên, Nguyễn Văn Luận cảm thấy nóng bất thường như lên cơn sốt. Ông kết luận sản phẩm chưa đủ tinh khiết và yêu cầu xử lý lại. Khi thuốc đã được tinh chế thêm, ông tiếp tục cho tiêm vào cánh tay mình lần thứ hai. Chỉ sau khi cơ thể không xuất hiện phản ứng bất thường, ông mới đồng ý cho sản xuất để gửi tới các cơ sở điều trị.

Việc một nhà khoa học tự thử thuốc ngày nay không còn phù hợp với những quy trình kiểm nghiệm hiện đại. Nhưng trong hoàn cảnh kháng chiến, hành động ấy cho thấy ông không chuyển bất kỳ rủi ro nào sang người bệnh khi bản thân chưa dám chịu trước.

Không chỉ làm thuốc, Nguyễn Văn Luận còn tìm cách giải quyết tình trạng thiếu dụng cụ y tế. Khi nhiều đơn vị cần bơm tiêm nhưng không thể mua từ vùng do đối phương kiểm soát, ông tìm được một công nhân biết nghề, thuyết phục người này đào tạo một nhóm thợ để sản xuất bơm tiêm tại xí nghiệp thủy tinh ở Việt Bắc.

Tháng 2 năm 1950, cơ sở dược do ông phụ trách chuyển đến Thọ Phát, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Đơn vị sau đó mang tên Công trường 4 rồi XF 341, với khoảng 50 công nhân. Giữa chiến tranh, một lực lượng sản xuất dược phẩm có tổ chức đã hình thành từ những xưởng nhỏ liên tục phải sơ tán.

Sau năm 1954, Nguyễn Văn Luận trở về Hà Nội. Ông lần lượt làm công tác kiểm nghiệm, bào chế rồi đảm nhiệm chức Giám đốc Xí nghiệp Dược phẩm Trung ương 2 trong 18 năm. Dưới sự lãnh đạo của ông, đơn vị có hàng chục dược sĩ, kỹ sư và gần 1.000 công nhân, sản xuất thuốc tiêm, vitamin, dịch truyền cùng nhiều chế phẩm từ dược liệu.

Xí nghiệp còn sản xuất dầu cao Ba Đình – thường được biết đến với tên cao Sao Vàng – để sử dụng trong nước và xuất khẩu sang Liên Xô, Đông Âu, Cuba. Nhiều dược chất như rutin, rotundin và palmatin cũng được nghiên cứu, chiết xuất phục vụ điều trị.

Năm 1974, Nguyễn Văn Luận được Nhà nước Lào trao Huân chương Ít-xa-la vì đã giúp xây dựng một xí nghiệp dược phẩm tại Sầm Nưa. Ông nghỉ hưu năm 1978 và qua đời ngày 7 tháng 5 năm 2003, thọ 89 tuổi tính theo ngày sinh.

Nhưng dấu ấn đáng nhớ nhất trong cuộc đời người dược sĩ ấy có lẽ vẫn là những lọ ê-te 50 mililít được chuyển từ xưởng thuốc bên đình làng đến các bàn mổ tiền phương.

Trên chiến trường, một người lính có thể không bao giờ biết ai đã làm ra thuốc giúp mình vượt qua ca phẫu thuật. Nguyễn Văn Luận cũng không cần họ biết tên mình. Với ông, thành công đã nằm trong khoảnh khắc người thương binh nhắm mắt đi vào giấc mê, không còn phải tỉnh táo chịu đựng từng đường dao như trước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn