Mười lăm lít thuốc gây mê mỗi tháng từ xưởng dược bên đình làng
Mười lăm lít thuốc gây mê mỗi tháng từ xưởng dược bên đình làng
tại một trạm phẫu thuật tiền phương ở Phủ Lý, Hà Nam, dược sĩ Nguyễn Văn Luận nhìn thấy điều khiến ông day dứt mãi: nhiều thương binh cần phẫu thuật nhưng thuốc gây mê đã cạn. Có những ca mổ nhỏ vẫn phải tiến hành trong khi người bị thương hoàn toàn tỉnh táo, cắn răng chịu từng đường dao và từng mũi khâu.
Với người dược sĩ, nỗi đau ấy đặt ra một mệnh lệnh không cần viết thành văn bản: phải tự làm được thuốc gây mê.
Nhưng đó là năm 1948. Cơ sở sản xuất của ngành quân y phải liên tục di chuyển để tránh những cuộc càn quét. Máy móc, hóa chất và dụng cụ thí nghiệm đều thiếu. Những thứ thông thường như chai thủy tinh, nút lọ hay ống dẫn cũng trở thành vật tư quý giá.
Giữa hoàn cảnh ấy, Nguyễn Văn Luận cùng hai công nhân trẻ Phạm Thiệp và Lại Thanh Hiền bắt đầu tìm cách sản xuất ê-te gây mê.
Nguyễn Văn Luận sinh ngày 13 tháng 6 năm 1913 tại Gia Thụy, Gia Lâm, Hà Nội, trong một gia đình viên chức nghèo nhưng coi trọng việc học. Năm 1944, ông tốt nghiệp dược sĩ cao cấp tại Trường Đại học Y Dược khoa Đông Dương. Khi ấy, số dược sĩ người Việt được đào tạo ở trình độ này còn rất ít; theo Báo Sức khỏe và Đời sống, trước năm 1945 cả nước chỉ có khoảng 12 người.
Với tấm bằng ấy, Nguyễn Văn Luận có thể xây dựng một cuộc sống ổn định bằng nghề dược. Ông đã mở hiệu thuốc riêng. Nhưng khi quân Pháp mở rộng chiến tranh ở miền Bắc, ông quyết định đóng cửa hiệu, trao số thuốc đang có cho chính quyền cách mạng rồi cùng vợ và con nhỏ lên đường tham gia kháng chiến.
Ông gia nhập Vệ quốc đoàn và được giao xây dựng Viện Bào chế A. Đầu năm 1947, cơ sở đặt tại làng Tẻ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Chiến tranh lan rộng đến đâu, xưởng thuốc lại phải di chuyển đến đó: từ Thái Bình sang Tiên Lữ của Hưng Yên, rồi về Thanh Miện, Hải Dương.
Mỗi lần chuyển địa điểm không đơn giản là đóng gói vài hòm thuốc. Cán bộ, công nhân phải tháo thiết bị, vận chuyển hóa chất, tìm nơi có nguồn nước và dựng lại toàn bộ dây chuyền. Xưởng vừa ổn định sản xuất thì có thể lại nhận lệnh lên đường.
Từ tháng 4 năm 1947, Nguyễn Văn Luận tổ chức làm nhiều loại vật tư và thuốc cần thiết cho quân y. Bông mua trong dân được xử lý thành bông thấm nước. Thạch cao đưa từ Trung Lào về được chế biến thành bột bó xương. Những sản phẩm tưởng như nhỏ bé ấy lại quyết định khả năng cứu chữa thương binh tại các trạm phẫu thuật.
Năm 1948, theo đề nghị của dược sĩ Đỗ Tất Lợi, Cục trưởng Cục Quân y Vũ Văn Cẩn quyết định thành lập Chi nhánh Liên khu 3–4 thuộc Viện Khảo cứu và Chế tạo dược phẩm. Nguyễn Văn Luận được giao làm trưởng chi nhánh và cấp 800.000 đồng tiền kháng chiến để nghiên cứu, tổ chức sản xuất.
Nhiệm vụ khó khăn nhất là chế tạo ê-te mê.
Muốn có ê-te, trước hết phải có cồn nồng độ cao. Nhưng trong vùng kháng chiến không có nguồn cồn công nghiệp ổn định. Nguyễn Văn Luận cho thu mua loại rượu dân gian khoảng 45 độ, thường được gọi là rượu “cuốc lủi”, rồi thiết kế một tháp chưng cất nhiều tầng bằng tôn để nâng nồng độ lên khoảng 92 độ.
Thiết bị sản xuất ê-te được dựng bên tường một ngôi đình làng. Bình phản ứng không phải dụng cụ nhập khẩu mà là một bình sành. Nút được làm bằng gỗ; những chỗ cần bịt kín sử dụng đất sét nhào với lá khoai môn. Các bộ phận phải lắp ghép từ những thứ cán bộ và công nhân có thể tìm kiếm hoặc tự chế tạo.
Khó khăn không chỉ nằm ở thiết bị. Hóa chất mua được có nhiều tạp chất và phải xử lý trước khi sử dụng. Quá trình tinh chế có thể sinh ra khí độc; còn ê-te lại rất dễ bắt lửa và gây nổ. Xưởng nằm xen giữa nhà dân nên một sơ suất không chỉ đe dọa người trực tiếp sản xuất mà còn gây nguy hiểm cho cả làng.
Nguyễn Văn Luận cùng các cộng sự phải kiểm soát chặt chẽ từng công đoạn, giữ nhiệt độ ổn định và tổ chức nơi làm việc sao cho hạn chế thấp nhất nguy cơ cháy nổ. Trong điều kiện thiết bị thô sơ, đây là một thử thách cả về kiến thức hóa dược lẫn tinh thần trách nhiệm.
Cuối cùng, những giọt ê-te đầu tiên ngưng tụ trong ống dẫn.



