Anh hùng Lao động

Mười liều vaccine – Hoàng Thủy Nguyên và lời cam kết bằng chính cơ thể mình

Khi vaccine bại liệt do Việt Nam sản xuất còn bị nghi ngờ, Hoàng Thủy Nguyên và Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đã trực tiếp uống mỗi người 10 liều để chứng minh độ an toàn trước khi đưa vaccine đến với trẻ em.

Phú Thọ25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1962, trong một hội trường của Bộ Y tế, trên bàn đặt những lọ vaccine bại liệt đầu tiên do Việt Nam tự sản xuất.

Quy trình đã hoàn thành. Bộ phận kiểm định đã được thành lập. Các báo cáo khoa học cũng đã được trình bày. Nhưng vẫn còn một câu hỏi khiến nhiều người do dự:

Vaccine ấy có thật sự an toàn không?

Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch yêu cầu Hoàng Thủy Nguyên mở một lọ.

Ông uống ngay.

Bộ trưởng cầm lọ tiếp theo và cũng trực tiếp uống. Tư liệu hồi cố của Giáo sư Nguyễn Văn Mẫn cho biết hai người đã uống mỗi người 10 liều vaccine để phá tan sự hoài nghi.

Đó không phải là một quy trình thử nghiệm lâm sàng theo tiêu chuẩn hiện đại. Hành động cần được đặt trong điều kiện khoa học, kỹ thuật và kiểm định của Việt Nam đầu thập niên 1960. Nó là lời cam kết của hai người đứng đầu công trình: họ sẵn sàng dùng chính cơ thể mình để chịu trách nhiệm cho sản phẩm vừa được tạo ra.

Người nhà khoa học uống những liều vaccine hôm ấy là Hoàng Thủy Nguyên.

Ông sinh ngày 18 tháng 3 năm 1929 tại làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Sau này, ông trở thành một chuyên gia đầu ngành về virus học và y tế dự phòng, nhưng con đường đưa ông đến những lọ vaccine đầu tiên bắt đầu từ một tình thế hết sức cấp bách.

Cuối những năm 1950, bệnh bại liệt bùng phát dữ dội tại miền Bắc.

Bệnh thường tấn công trẻ em. Một đứa trẻ đang khỏe mạnh có thể đột ngột sốt, đau cơ, rồi mất khả năng vận động. Có em phải sống suốt đời với đôi chân bị liệt. Trường hợp nặng có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong.

Theo tư liệu Báo Nhân Dân công bố, riêng năm 1959, Việt Nam ghi nhận hơn 6.000 trường hợp mắc và 783 người tử vong. Nguồn vaccine viện trợ từ Liên Xô giúp Việt Nam bước đầu đối phó dịch bệnh, nhưng việc vận chuyển trên quãng đường dài gặp rất nhiều khó khăn.

Vaccine cần được bảo quản trong điều kiện lạnh nghiêm ngặt. Một tài liệu năm 1960 cho biết trong 11 lọ chế phẩm được vận chuyển bằng những hòm có đá khô, có tới tám lọ bị rạn vỡ khi đến nơi.

Nếu tiếp tục hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn bên ngoài, trẻ em Việt Nam có thể không được bảo vệ kịp thời mỗi khi dịch bùng phát.

Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đặt ra yêu cầu rõ ràng: Việt Nam phải tự sản xuất vaccine phòng bệnh bại liệt.

Tháng 5 năm 1960, Hoàng Thủy Nguyên được cử sang Moskva dự hội nghị khoa học về bại liệt. Sau hội nghị, ông ở lại Liên Xô khoảng ba tháng để học quy trình sản xuất vaccine Sabin bằng virus sống giảm độc lực.

Đến giữa tháng 7, ông đã nắm được quy trình. Nhưng học được công nghệ là một chuyện; đưa công nghệ ấy về một đất nước thiếu điện, thiếu nước, thiếu hóa chất và máy móc lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Trở về nước vào giữa tháng 8 năm 1960, Hoàng Thủy Nguyên lập tức thành lập nhóm nghiên cứu. Các bác sĩ, kỹ thuật viên vừa làm vừa hướng dẫn nhau, cùng tìm cách điều chỉnh quy trình cho phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Phòng nghiên cứu được bố trí tại tầng hai một cơ sở cũ của nhà dòng ở số 5 phố Quang Trung, Hà Nội. Đây không phải một phòng thí nghiệm hiện đại. Điện thường xuyên không ổn định, nước thiếu và nhiều dụng cụ chuyên môn chưa có.

Nhóm phải dùng thiết bị tăng áp để giữ nguồn điện. Trong phòng kín không có điều hòa, họ đặt đá lạnh ở các góc tường để giảm nhiệt. Những ca làm việc kéo dài khiến quần áo vô trùng ướt đẫm mồ hôi.

Khi phải làm thí nghiệm ban đêm, phần bồi dưỡng được xem là “sang” nhất đôi khi chỉ là một bát cháo gà.

Khó khăn lớn khác là nguyên liệu.

Quy trình sản xuất vaccine bại liệt cần tế bào thận khỉ. Các nước có điều kiện thường sử dụng khỉ xanh châu Phi, nhưng Việt Nam không đủ kinh phí nhập loại động vật này. Hoàng Thủy Nguyên cùng đồng nghiệp nghiên cứu sử dụng khỉ vàng có sẵn trong nước.

Một cơ sở nuôi khỉ phục vụ nghiên cứu được hình thành tại đảo Rều thuộc vùng biển Quảng Ninh. Những con khỉ được kiểm tra, chăm sóc và đưa về viện theo quy trình riêng để cung cấp tế bào cho việc sản xuất và kiểm định vaccine.

Huyết thanh dùng để nuôi tế bào cũng là một bài toán khó. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu, nhóm nghiên cứu tìm cách sử dụng huyết thanh bò trưởng thành trong nước.

Từng khó khăn được tháo gỡ bằng những giải pháp phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cấp cho nhóm nghiên cứu 2.000 bảng Anh mỗi năm để mua hóa chất và thiết bị. Hoàng Thủy Nguyên chi tiêu rất chặt chẽ. Sau vài năm, phần kinh phí tiết kiệm được đủ để mua thêm một máy đông khô của Tây Đức, cũng có giá khoảng 2.000 bảng Anh.

Cuối năm 1960, vaccine bại liệt đã được sản xuất thực nghiệm trong phòng thí nghiệm. Ngày 8 tháng 3 năm 1961, Bộ Y tế thành lập bộ phận kiểm định độc lập để đánh giá chất lượng và độ an toàn trước khi sử dụng.

Đến năm 1962, sản phẩm đã sẵn sàng.

Nhưng những điều kiện kiểm định của Việt Nam khi ấy chưa thể đầy đủ như ở các nước có nền khoa học phát triển. Nhiều người vẫn lo ngại vaccine sống giảm độc lực có thể gây nguy hiểm.

Đó là lúc diễn ra cuộc “nghiệm thu” đặc biệt.

Hoàng Thủy Nguyên uống vaccine trước. Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch cũng uống. Hai người dùng chính hành động của mình để khẳng định họ tin vào quy trình, vào kết quả kiểm định và vào công trình của tập thể nghiên cứu.

Sau đó, Bộ Y tế quyết định cho phép sử dụng rộng rãi vaccine.

Ngay trong năm 1962, nhóm của Hoàng Thủy Nguyên sản xuất được hai triệu liều. Năm 1963, sản lượng tăng lên hơn 7,4 triệu liều. Theo tư liệu của Báo Nhân Dân, Việt Nam trở thành nước thứ hai sau Liên Xô có thể tự túc vaccine bại liệt.

Kết quả xuất hiện rất nhanh. Dịch bại liệt năm 1964 được dập tắt. Đến năm 1965, tỷ lệ mắc giảm còn khoảng 0,66 trên 100.000 dân, thấp hơn năm lần so với năm 1961. Việt Nam còn cung cấp vaccine hỗ trợ nước bạn Lào.

Từ năm 1985, vaccine bại liệt dạng uống do Việt Nam sản xuất được đưa vào Chương trình Tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới một tuổi trên toàn quốc. Trong giai đoạn 1990–2000, tỷ lệ trẻ được uống đủ ba liều liên tục đạt trên 90%.

Ca bệnh bại liệt cuối cùng tại Việt Nam được phát hiện năm 1997. Năm 2000, Tổ chức Y tế thế giới công nhận Việt Nam đã thanh toán bệnh bại liệt.

Hàng triệu trẻ em được bảo vệ khỏi nguy cơ tử vong hoặc phải mang di chứng suốt đời.

Hoàng Thủy Nguyên không dừng lại ở vaccine Sabin. Dưới sự chỉ đạo của ông, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tiếp tục nghiên cứu, sản xuất nhiều loại vaccine phòng đậu mùa, tả, thương hàn, ho gà, bạch hầu, lao, dại, viêm não Nhật Bản và viêm gan B.

Ngay cả khi tuổi đã cao và phải ngồi xe lăn, ông vẫn đến cơ sở nghiên cứu, trao đổi công việc với các đồng nghiệp trẻ và tham gia định hướng nghiên cứu vaccine phòng cúm A/H5N1.

Ông qua đời lúc 11 giờ 40 phút ngày 20 tháng 7 năm 2018, hưởng thọ 89 tuổi.

Trong lịch sử khoa học, những công trình lớn thường được ghi nhớ bằng số liệu, bằng sáng chế và giải thưởng. Nhưng câu chuyện về Hoàng Thủy Nguyên còn được nhớ bằng một hình ảnh giản dị hơn:

Một lọ vaccine trên tay.

Một người khoa học uống trước.

Và phía sau hành động ấy là lời cam kết rằng sản phẩm ông làm ra phải đủ an toàn để trao cho những đứa trẻ của đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn