MƯỜI MỘT CÔ GÁI SÔNG HƯƠNG – NHỮNG VẦN THƠ VÀ NỖI NHỚ ĐỒNG ĐỘI
Qua lời kể của bà Hoàng Thị Nở, một trong 11 cô gái sông Hương, chúng em được biết thêm những năm tháng chiến đấu tại Huế, niềm xúc động khi được Bác Hồ tặng thơ và tình đồng đội sâu nặng còn mãi sau chiến tranh.

Có những kỷ niệm được người lính nhớ bằng địa danh, ngày tháng. Có những kỷ niệm trở về qua một tấm ảnh, một bài thơ và tên những đồng đội đã hy sinh.
Với bà Hoàng Thị Nở, ký ức về Tiểu đội nữ du kích sông Hương luôn gắn với niềm tự hào và nỗi nhớ. Đọc câu chuyện của bà, em xúc động trước những người con gái đã cùng nhau đi qua chiến tranh, rồi mang tình đồng đội theo suốt cuộc đời.
Tuổi trẻ nhận nhiệm vụ giữa quê hương khói lửa
Mười sáu tuổi, Hoàng Thị Nở tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương. Từ những công việc ban đầu, bà từng bước trưởng thành, gắn bó với lực lượng dân quân và phong trào kháng chiến.
Đầu năm 1967, Tiểu đội nữ du kích sông Hương được thành lập, gồm 11 cô gái, do chị Phạm Thị Liên làm Tiểu đội trưởng, chị Đỗ Thị Cúc làm Tiểu đội phó.
Các chị có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, nắm tình hình, làm giao liên và dẫn đường. Để chuẩn bị cho những nhiệm vụ ấy, chị em phải tìm hiểu kỹ địa bàn, ghi nhớ đường đi, giữ bí mật và phối hợp chặt chẽ.
Đọc đến đây, em hiểu rằng sự thông thuộc quê hương đã trở thành một lợi thế quan trọng. Những con đường, xóm làng quen thuộc giờ gắn với trách nhiệm đưa bộ đội tới đúng nơi, bảo đảm an toàn cho lực lượng làm nhiệm vụ.
Những người dẫn đường trong mùa Xuân năm 1968
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Huế, các thành viên tiểu đội đảm nhận nhiều công việc: dẫn đường, bảo vệ sở chỉ huy, đưa thương binh về tuyến sau và trực tiếp chiến đấu.
Theo hồi ức của bà Nở, đêm 30 Tết, chị em chia thành ba tổ dẫn ba cánh quân vào thành phố. Khi đối phương phản công, các chị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện ngày càng ác liệt.
Em nghĩ nhiều đến trách nhiệm của người dẫn đường. Trong đêm tối và hoàn cảnh nguy hiểm, người đi đầu phải bình tĩnh, nhớ rõ địa hình và phối hợp với đơn vị phía sau.
Cùng lúc đó, việc đưa thương binh ra khỏi khu vực chiến đấu cũng cần sức lực và lòng dũng cảm. Những nhiệm vụ nối tiếp nhau cho thấy các chị đã cố gắng đảm đương nhiều phần việc để hỗ trợ đồng đội.
Những người mãi mãi ở tuổi thanh xuân
Khi nhắc đến chiến dịch, bà Hoàng Thị Nở không quên những chị em đã ngã xuống.
Theo lời bà kể, chị Hoàng Thị Sau và chị Đỗ Thị Hoa hy sinh ngày 12/2/1968; chị Hoàng Thị Hết và chị Nguyễn Thị Diên hy sinh ngày 24/2 cùng năm.
Các chị còn rất trẻ, mang theo nhiều ước mơ chưa kịp thực hiện. Với người ở lại, những cái tên ấy gắn với khuôn mặt, giọng nói và những ngày cùng làm nhiệm vụ.
Đọc những dòng hồi ức, chúng em hiểu thêm nỗi đau phía sau một chiến công. Niềm tự hào luôn đi cùng sự tiếc thương những người đã hy sinh để bảo vệ quê hương.
Sau chiến dịch, tiểu đội tiếp tục hoạt động trên chiến trường Thừa Thiên. Năm 1969, Tiểu đội phó Đỗ Thị Cúc hy sinh tại A Lưới. Năm 1972, Tiểu đội trưởng Phạm Thị Liên hy sinh khi làm nhiệm vụ ở Kim Long.
Đến ngày chiến tranh kết thúc, chỉ còn năm người trong tiểu đội trở về.
Nước mắt trong giây phút được Bác tặng thơ
Một kỷ niệm đặc biệt trong lời kể của bà Nở là lần tiểu đội được đón nhận bài thơ khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bà nhớ khi nghe bài thơ, chị em nhìn nhau và cùng khóc. Giữa bao công việc lớn của đất nước, Bác vẫn quan tâm, động viên những nữ dân quân đang chiến đấu tại Huế.
Niềm xúc động ấy trở thành nguồn khích lệ để các chị tiếp tục cố gắng. Chị em nắm tay nhau, tự nhắc phải làm tốt hơn để xứng đáng với sự tin yêu của Bác.
Điều khiến em nhớ mãi là cách bà Nở nâng niu kỷ niệm ấy sau nhiều năm. Bài thơ gắn với tuổi trẻ, với đồng đội và cảm giác được động viên giữa hoàn cảnh gian khó.
Qua câu chuyện, chúng em cảm nhận được ý nghĩa của sự quan tâm đúng lúc. Một lời ghi nhận chân thành có thể tiếp thêm sức mạnh cho con người vượt qua thử thách.
Trở về, tiếp tục làm việc và cống hiến
Sau năm 1975, bà Hoàng Thị Nở trở về cuộc sống đời thường, xây dựng gia đình và tiếp tục công tác tại địa phương.
Bà từng làm Chính trị viên phường đội Vĩnh Lợi, sau đó công tác tại Hội Nông dân thành phố Huế. Trong nhiều năm đảm nhiệm công việc ở Hội, bà tiếp tục dành tâm sức cho phong trào và nhiệm vụ được giao.
Theo bài viết, dù những vết thương chiến tranh còn gây đau nhức, bà vẫn giữ tinh thần lạc quan, gần gũi với mọi người.
Từ người nữ du kích đến người cán bộ địa phương, bà mang theo sự tận tụy đã được rèn luyện trong quân ngũ. Câu chuyện ấy giúp em hiểu rằng trách nhiệm với quê hương tiếp tục được thể hiện trong những công việc hằng ngày sau chiến tranh.
Nỗi nhớ được gìn giữ suốt cuộc đời
Những người còn lại của tiểu đội mỗi người có cuộc sống và gia đình riêng. Khi có dịp gặp nhau, họ cùng ôn lại chuyện cũ, nhắc tên đồng đội và xúc động trước những ký ức đã qua.
Bà Nở kể rằng khi đến nghĩa trang, đến bia tưởng niệm thắp hương, các bà cảm thấy như đang trò chuyện cùng những người chị em năm xưa.
Mong ước được gặp lại đồng đội ở xa của bà thật giản dị. Sau những năm tháng cùng trải qua hiểm nguy, chỉ một cuộc gặp cũng đủ đem lại niềm an ủi.
Năm 2009, Tiểu đội nữ du kích sông Hương được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sự ghi nhận ấy gắn với công lao của cả tập thể, trong đó có những người đã không được trở về chứng kiến ngày hòa bình.
Giữ lại câu chuyện cho hôm nay và mai sau
Tìm hiểu về 11 cô gái sông Hương, học sinh Trường THCS Thanh Oai chúng em thêm biết ơn những người đã dành tuổi trẻ cho đất nước.
Chúng em học ở các chị sự kiên trì, tinh thần phối hợp và tình cảm thủy chung với đồng đội. Trong cuộc sống học đường, mỗi bạn có thể rèn luyện những điều ấy bằng cách hoàn thành nhiệm vụ, giúp đỡ bạn bè và biết quan tâm khi người khác gặp khó khăn.
Chúng em cũng tự nhắc mình tìm hiểu lịch sử bằng thái độ trân trọng, ghi nhớ tên những người đã hy sinh và giữ gìn câu chuyện của các nhân chứng.
Những vần thơ Bác tặng và nỗi nhớ đồng đội của bà Hoàng Thị Nở giúp chúng em cảm nhận lịch sử qua tình cảm của một con người. Từ đó, chúng em càng quý cuộc sống bình yên và muốn sống có trách nhiệm hơn với quê hương.
Nguồn tư liệu: Bài viết về bà Hoàng Thị Nở và Tiểu đội 11 cô gái sông Hương, nguồn Báo Quân đội nhân dân, theo nội dung người biên tập cung cấp.
Biên tập phục vụ chuyên mục “Câu chuyện thời hoa lửa” – Trường THCS Thanh Oai.


