Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Mười mùa xuân xa nhà

Nhập ngũ tháng 2 năm 1967 và xuất ngũ tháng 5 năm 1977, đồng chí Lục Văn Thung đã dành trọn mười năm tuổi thanh xuân trong quân ngũ. Mười mùa xuân không được đón Tết cùng gia đình, nhưng cũng là mười mùa xuân ông cùng đồng đội góp sức bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc.

Lào Cai16/06/2026Hoàng Trọng Việt (Đoàn xã Lâm Thượng)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tên câu chuyện: Mười mùa xuân xa nhà

Tóm tắt:
Nhập ngũ tháng 2 năm 1967 và xuất ngũ tháng 5 năm 1977, đồng chí Lục Văn Thung đã dành trọn mười năm tuổi thanh xuân trong quân ngũ. Mười mùa xuân không được đón Tết cùng gia đình, nhưng cũng là mười mùa xuân ông cùng đồng đội góp sức bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc.

NỘI DUNG CÂU CHUYỆN

Tháng 2 năm 1967.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn khốc liệt, chàng thanh niên Lục Văn Thung, sinh tháng 11 năm 1944, đã tình nguyện lên đường nhập ngũ.

Ngày ấy ông đã 22 tuổi.

Ở quê hương miền núi, nhiều người cùng trang lứa đã lập gia đình, xây dựng cuộc sống riêng. Nhưng đối với thế hệ thanh niên thời đó, khi đất nước còn chiến tranh, tiếng gọi của Tổ quốc luôn được đặt lên trên hết.

Ngày khoác lên mình bộ quân phục màu xanh lần đầu tiên, ông Thung cũng như bao người lính trẻ khác mang theo niềm tin giản dị:

Đánh thắng giặc Mỹ rồi sẽ trở về.

Thế nhưng không ai ngờ rằng cuộc đời quân ngũ của ông kéo dài tới mười năm.

Mười năm ấy là biết bao đổi thay của đất nước.

Mười năm ấy cũng là mười cái Tết xa quê.

Tết đầu tiên trong quân ngũ là mùa xuân năm 1968.

Khi ấy đơn vị đang làm nhiệm vụ xa hậu phương.

Không có bánh chưng.

Không có cành đào.

Không có tiếng trẻ con nô đùa như ở quê nhà.

Bữa cơm tất niên chỉ có vài món đơn sơ.

Nhưng đêm giao thừa ấy, tất cả chiến sĩ vẫn quây quần bên nhau.

Một chiếc đài bán dẫn nhỏ phát những bài hát cách mạng.

Có người kể chuyện quê hương.

Có người hát dân ca.

Có người lặng lẽ nhìn về phía Bắc, nơi có gia đình đang đón Tết.

Ông Thung cũng vậy.

Ông nhớ cha mẹ.

Nhớ bản làng.

Nhớ tiếng giã bánh chưng mỗi dịp cuối năm.

Nhưng rồi tiếng đồng đội gọi nhau chúc Tết đã làm vơi đi nỗi nhớ ấy.

Mọi người động viên nhau:

"Tết sang năm sẽ được về."

Nhưng rồi chiến tranh vẫn tiếp diễn.

Tết năm sau.

Rồi năm sau nữa.

Ông vẫn ở trong quân ngũ.

Năm 1969, khi đơn vị đang làm nhiệm vụ thì nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.

Nỗi đau ấy phủ lên tất cả người lính.

Trong lễ truy điệu đơn sơ giữa rừng, ông cùng đồng đội đã hứa trước anh linh của Bác:

Quyết tâm chiến đấu đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.

Những năm đầu thập niên 1970, chiến trường ngày càng ác liệt.

Không quân Mỹ liên tục đánh phá.

Nhiều đơn vị phải cơ động liên tục.

Có những cái Tết được đón trong hầm trú ẩn.

Có những đêm giao thừa phải trực chiến.

Có những mùa xuân chỉ nghe tiếng pháo địch thay cho tiếng pháo mừng năm mới.

Nhưng điều kỳ lạ là càng gian khổ, tình đồng đội càng bền chặt.

Trong đơn vị của ông Thung có một cuốn sổ nhỏ gọi là "Sổ mùa xuân".

Mỗi dịp Tết đến, từng chiến sĩ sẽ viết vào đó một điều ước cho tương lai.

Người ước chiến tranh sớm kết thúc.

Người ước được gặp lại cha mẹ.

Người ước được trở về quê cưới vợ.

Người ước đất nước hòa bình để trẻ em không còn phải sống trong bom đạn.

Ông Thung năm nào cũng viết cùng một câu:

"Ước mong đất nước thống nhất."

Mùa xuân năm 1975.

Điều ước ấy cuối cùng cũng trở thành hiện thực.

Khi Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cả đơn vị như vỡ òa trong hạnh phúc.

Nhiều người ôm nhau khóc.

Có người lấy cuốn sổ mùa xuân ra đọc lại những dòng chữ từ nhiều năm trước.

Ông Thung tìm thấy dòng chữ mình viết từ mùa xuân 1968.

Nét mực đã nhòe.

Trang giấy đã ố vàng.

Nhưng điều ước thì đã thành hiện thực.

Đất nước thống nhất rồi.

Những tưởng chiến thắng sẽ là ngày kết thúc cuộc đời quân ngũ.

Nhưng ông vẫn tiếp tục phục vụ trong quân đội thêm hai năm nữa để tham gia bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước sau chiến tranh.

Mãi đến tháng 5 năm 1977, ông mới chính thức xuất ngũ.

Ngày trở về quê hương, ông mang theo rất ít tài sản.

Một chiếc ba lô cũ.

Một bộ quân phục bạc màu.

Một vài tấm ảnh đồng đội.

Và cuốn sổ mùa xuân đã theo ông suốt mười năm quân ngũ.

Đó là kỷ vật quý giá nhất.

Bởi trong đó lưu giữ tuổi trẻ của ông và của cả một thế hệ.

Một thế hệ đã dành những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời cho Tổ quốc.

Ngày nay, khi kể lại câu chuyện ấy cho con cháu nghe, ông Lục Văn Thung vẫn luôn giữ cuốn sổ cũ bên mình.

Mỗi lần mở ra, ông như được gặp lại những đồng đội năm xưa.

Có người đã trở về.

Có người mãi mãi nằm lại chiến trường.

Nhưng tất cả đều có chung một ước mơ:

Đất nước hòa bình, nhân dân hạnh phúc.

Thông điệp:

"Có những thế hệ dành tuổi trẻ để xây dựng tương lai. Có những thế hệ phải dành tuổi trẻ để bảo vệ tương lai. Thế hệ kháng chiến chống Mỹ đã sống trọn vẹn với lý tưởng ấy, để hôm nay đất nước được hòa bình và phát triển."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Mười mùa xuân xa nhà | Câu chuyện thời hoa lửa