Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

MƯỜI NĂM HÒA BÌNH Ở MIỀN BẮC

Sau Hiệp định Genève 1954, Việt Nam tạm thời chia cắt hai miền. Trong khi Mỹ dựng chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam và phá hoại hiệp định, miền Bắc tập trung xây dựng lực lượng quốc phòng. Quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành củng cố tổ chức, huấn luyện chính quy, nghiên cứu chiến thuật hiệp đồng binh chủng và chuẩn bị lực lượng bảo vệ miền Bắc, đồng thời sẵn sàng chi viện cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp. 🇻🇳

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ thì các nước tham dự hội nghị buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, sau hai năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà.

Mỹ hất cẳng Pháp, dựng ngụy quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm, công khai phá Hiệp định Giơ-ne-vơ. Mỹ đứng đằng sau giật dây, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng, làm căn cứ quân sự hòng ngăn cản phong trào cách mạng phát triển xuống Đông Nam Á.

Để thực hiện Hiệp định, ta và Pháp thống nhất tổ chức Ủy ban Liên hợp Trung ương và địa phương. Ủy ban Trung ương bên ta do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn, bên Pháp do thiếu tướng Đen-tơi làm trưởng đoàn, bắt đầu làm việc từ ngày 29 tháng 7 năm 1954 tại Trung Giã. Tôi được chỉ định tham gia trong đoàn của Việt Nam ở Trung ương với quân hàm thiếu tá.

Trước khi đi làm nhiệm vụ mới, có thời gian rảnh, tôi được nghỉ bốn ngày đi tổ chức lễ cưới. Đó là nguồn động viên mới đối với tôi, trong những năm chiến tranh có người bạn đời đồng hành, có thêm ý nghĩa mới. Tôi coi ngày cưới là một phần thưởng rất quý giá với riêng tôi, đối với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ hiến đấu trong những năm qua. Có được ngày này, tôi biết ơn Ban chính trị Trung đoàn 36 cùng đồng chí Chấn – Bí thư chi bộ Đảng của Xí nghiệp Dược đã quan tâm tạo điều kiện cho chúng tôi gặp nhau. Đồng chí Chấn là chuyên viên về Đông y, sau này về Hà Nội, đồng chí được giao phụ trách xây dựng Viện Đông y đầu tiên của Quân đội.

Vì đang bận công tác, cơ quan không ai đi dự cùng tôi. Chỉ có một lá thư chúc mừng của đồng chí Cục trưởng Trần Văn Quang để đọc trong lễ cưới. Đi đến xí nghiệp lúc này đã tập trung về Phú Lương – Thái Nguyên mất một ngày, ngày thứ hai chuẩn bị cưới, ngày thứ tư về cho kịp trả phép. Toàn bộ xí nghiệp họp lại ca hát, chúc mừng và liên hoan một bữa chè để chia vui. Có cả Chủ tịch xã Yên Trạch vào chứng kiến và làm giấy hôn thú đầy đủ pháp lý của Nhà nước. Đến nay năm 2004 đã tròn 50 năm, cùng với kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, cũng đủ thời gian để chúng tôi làm đám cưới Vàng.

Tôi tham gia vào Ủy ban Liên hợp Trung ương, chủ yếu chuẩn bị tài liệu, số liệu phục vụ cho cuộc đấu tranh với đối phương. Tôi biết tiếng Pháp, tôi xem tài liệu của họ, nghe họ nói để kiểm tra nội dung phiên dịch của họ nói lại và để giúp cho đoàn ta chuẩn bị đối sách. Khi có sự việc trong vùng tập kết của Pháp mà họ khiếu nại với Ủy ban là nhân dân ta vi phạm Hiệp định thì tôi đi cùng với họ đến tại chỗ để giải quyết. Đi đến đâu tôi đều đòi họ để cho tôi gặp dân. Qua đó tôi vận động nhân dân, nói rõ nội dung hiệp định cho nhân dân biết để đấu tranh hợp pháp. Ở đâu tôi cũng đợc nhân dân ủng hộ vì qua trang phục và câu chào đầu tiên: “Thưa toàn thể đồng bào”, nhân dân đã biết là “Bộ đội Cụ hồ”, do đó tôi lúc nào cũng đủ chứng lý để bác các khiếu nại của họ. Khi đi làm việc với họ, tôi luôn dùng tiếng Việt, vừa giữ quốc thế, đúng quy tắc ngoại giao, vừa có nhiều thời gian để suy nghĩ cho chặt chẽ trước khi phát ngôn. Khi phiên dịch của họ nói sai, tôi có thể yêu cầu nói lại.

Tôi làm việc ở Ủy ban Liên hợp chỉ một thời gian ngắn, cho đến khi đã chuẩn bị xong các văn bản về việc bàn giao các khu tập kết 80 ngày (Hà Nội), 100 ngày (Hải Dương), 300 ngày (Hải Phòng) để hai trưởng đoàn ký, song song với việc bàn giao các khu tập kết của ta ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ kết hợp chặt chẽ với kế hoạch chuyển bộ đội và cán bộ ra Bắc.

*
* *


Sau ngày tiếp quản thủ đô, tôi trở lại Cục Tác chiến làm Phó phòng Giáo luyện. Phòng này mới thành lập, chỉ có: đồng chí Hồ Quang Hóa làm Trưởng phòng, tôi làm Phó phòng và hai đồng chí nữa là Lê Quân, Nguyễn Kim. Nhiệm vụ của phòng là: tổng kết, huấn luyện tác chiến, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến dịch. Công tác chủ yếu lúc này là nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ mới.

Để thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của miền Bắc, Quân đội có hai nhiệm vụ chính: Xây dựng lực lượng vũ trang lớn mạnh, xây dựng hậu phương vững chắc; sẵn sàng chiến đấu chống các cuộc tiến công lớn của địch có thể tiến công đường bộ hoặc đổ bộ đường biển ra Bắc và sẵn sàng chi viện miền Nam.

Đây là bước ngoặt để huấn luyện, xây dựng quân đội, chuyển hướng xây dựng chính quy, từng bước hiện đại, đánh lớn hiệp đồng binh chủng, tiến lên hiệp đồng quân chủng nhằm đối tượng là đế quốc Mỹ với ngụy quân tay sai.

Tổ chức quân đội ta lúc này cao nhất là cấp Quân khu và Đại đoàn. Miền Bắc có 6 quân khu và 12 đại đoàn, 13 trung đoàn bộ binh, 3 đại đoàn pháo, 2 trung đoàn pháo chống tăng, 2 trung đoàn hỏa tiễn, 1 đại đoàn cao xạ. Cơ sở cho Hải quân và không quân có Cục Phòng thủ bờ biển và Cục Hàng không.

Tôi được giao nhiệm vụ giữ liên hệ với tùy viên quân sự Liên Xô để sắp xếp làm việc về những vấn đề mà Bộ yêu cầu giúp đỡ. Tùy viên quân sự Liên Xô lúc này có đồng chí thiếu tướng Bu-nha-sin, đồng chí đại tá hải quân Công-stăng-ti-nốp, đồng chí trung tá An-đờ-rê, và đồng chí thượng úy phiên dịch tiếng Pháp Sa-phơ-rô-nốp, vì lúc này chưa có phiên dịch tiếng Nga.

Tôi đã có dịp đưa một đoàn cán bộ do một viện sĩ hàn lâm Liên Xô dẫn đầu đi nghiên cứu trận Điện Biên Phủ, đưa đoàn của tùy viên quân sự liên Xô do đồng chí Công-stăng-ti-nốp đi nghiên cứu các quân khu ven biển.

Theo yêu cầu của đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Bu-nha-sin đã giới thiệu về nguyên tắc tác chiến hiệp đồng binh chủng hiện đại, đi sâu vào tổ chức và thực hành chiến đấu cấp trung, sư đoàn. Đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp nghe cùng các thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục và một số cục giúp Bộ làm công tác chỉ đạo huấn luyện, xây dựng. Trong các lần làm việc này, tôi thường làm phiên dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt.

Sau đó, các đồng chí Liên Xô giao cho tôi bản tiếng Pháp cùng một số sách tiếng Pháp về một số trận đánh ở Liên xô thời chống phát xít Đức để làm chiến lệ. Tôi đã nghiên cứu kỹ, dịch ra và trao tài liệu cho cơ quan quân huấn phối hợp tổ chức những lớp học đầu tiên về chiến thuật đánh hiệp đồng binh chủng hiện đại cho cán bộ huấn luyện các quân khu và đơn vị.

Để huấn luyện rộng rãi cho bộ đội, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức ban biện soạn ở trường trung cao gồm đồng chí Hoàng Minh Thảo, Vương Thừa Vũ, Vũ Lăng, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Tổng tham mưu phó Trần Văn Trà, Ban biên soạn nghiên cứu vận dụng vào điều kiện địa hình trang bị của ta, phát huy kinh nghiệm và truyền thống tốt đẹp của bộ đội ta, biên soạn tài liệu tiến công phòng ngự của ta, trong điều kiện xe tăng chưa có, pháo binh còn ít, phá rào còn dùng “rồng lửa”. Sau đó, cơ quan quân huấn làm huấn luyện cho đơn vị thuộc Đại đoàn 308 làm thực nghiệm rồi diễn tập ở Hòa Lạc trên địa hình trung bình cho cán bộ toàn quân tham quan học tập. Lần diễn tập này được vinh dự có Bác Hồ cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến xem. Bác khen tinh thần tích cực học tập cái mới cái hay của bạn, nhưng phải chú ý cho phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Trong thời gian này kế hoạch đào tạo cán bộ có thêm nhiều cán bộ đi học ở Học viện Liên xô, Trung Quốc cả các trường binh chủng.

Bộ còn chỉ đạo các cuộc diễn tập thực nghiệm như: Cuộc diễn tập trung đoàn tiến công của Trung đoàn 36, Trung đoàn 102 ở đồng bằng vùng Thanh Oai – Hà Đông do đồng chí Trần Văn Quang – Cục trưởng Cục Tác chiến chỉ đạo. Cuộc diễn tập vượt sông bằng sức mạnh của Đại đoàn 308 tăng cường một tiểu đoàn xe tăng, một tiểu đoàn pháo, một tiểu đoàn cao xạ, một số đơn vị vận tải cộng với xe vượt sông Thái Bình, khu vực Cẩm Giàng, Nam Sách, Hải Dương; cuộc diễn tập này không đạt, bị ùn tắc, không hiệp đồng được với quân dù. Cuộc diễn tập vùng sông nước của Đại đoàn 320 ở Kiến An, Hải Phòng, Phú Xuyên, Hà Tây, Đồng Văn, Hà Nam, v.v… Ở giới tuyến thì tổ chức thực tập kế hoạch tác chiến Trung đoàn 270 do Quân khu chỉ đạo, phòng Giáo luyện giúp đỡ.

Ta cũng học kinh nghiệm của Liên Xô, tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan hai cấp. Cách diễn tập này là một phương pháp rèn luyện thực tế cho người chỉ huy và cơ quan rất sát thực tế và có hiệu quả cao. Quân huấn đã vận dụng thực hiện thành nếp hàng năm hết mùa huấn luyện bộ đội thì tổ chức diễn tập chỉ huy cơ quan hai cấp kết quả rất tốt.

Các đồng chí lãnh đạo quân đội còn đi thăm và nghiên cứu công tác tham mưu chiến lược ở một số nước bạn:

Năm 1957, đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đi thăm Liên Xô, tôi cũng được đi theo. Năm 1959, đoàn cán bộ Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Văn Tiễn Dũng dẫn đầu đi thăm nghiên cứu công tác tham mưu chiến lược ở bốn nước Đông Âu trong hai tháng.

Theo yêu cầu của đồng chí Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp, Liên Xô tổ chức lớp ngắn ngày cho các đồng chí lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Chương trình 12 tháng chia ra hai năm vì các đồng chí không thể vắng quá lâu. Lớp được tổ chức ở Học viện Vô-rô-si-lốp, nơi chuyên dạy về chiến dịch chiến lược cho cán bộ Liên Xô, bắt đầu từ hè 1960. Tham sự lớp này có các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Cao Văn Khánh, Nguyễn Quyết, Lê Quang Đạo, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Đôn. Cùng đi để lo việc tổ chức và bảo đảm có các đồng chí: Thanh Quảng bên Văn phòng, tôi với hai cán bộ Phòng Giáo luyện là Bùi Công Ái và Trần Độ (Bé) vừa mới tốt nghiệp trường Phơ-run-de Liên Xô về, và bác sĩ Kính. Do đã có hai đồng chí Ái và Độ làm phiên dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt, nên các anh cho phép đồng chí Thanh Quảng và tôi được cùng học.

Tôi đã tự học tiếng Nga theo quyền Ni-na Pô-ta-pô-va, sang đấy lại được học với cô giáo Nga và được giao tiếp nhiều, vì vậy tôi đã được được sách quân sự, được mượn sách ở thư viện của Học viện để xem thêm. Tôi tìm được quyển cẩm nang tra cứu tính toán các vụ nổ hạt nhân mà tôi chưa từng thấy, nên tôi ghi dần vào sổ việc vì sổ học tập phải gửi vào bảo mật trước khi về nhà. Hết sáu tháng đầu, tôi đã ghi hết quyền sách dày hơn 500 trang, sau đem về in thành sách để tổ chức cho cán bộ học trong thời gian đầu. Nhờ lõm bõm tiếng Nga, trong giờ nghỉ giải lao tôi thường nêu thắc mắc với thầy giáo Nga vì thấy quá nhiều vấn đề khác ta. Chẳng hạn, họ nêu rất rõ ràng, ta mạnh hơn địch thì tiến công, có nguyên tử thì tiến công, yếu thì phải phòng ngự; như địa hình Việt Nam ở đồng bằng thì ruộng lúa nước, nhiều sông ngòi, ở rừng núi thì rất ít đường, rừng rậm, núi rất dốc cơ động rất khó khăn, làm sao có tốc độ cao trong tiến công? Quân đội ta theo chế độ tập thể lãnh đạo thủ trưởng phụ trách, làm sao làm theo thứ tự công tác tham mưu? Rõ ràng là ta phải làm khác v.v… Thầy giáo Nga cũng nói: Phải theo điều kiện cụ thể mà vận dụng, không được máy móc, tôi tin ở các đồng chí Việt Nam, các đồng chí đã có nhiều kinh nghiệm rồi.

Từ đó Liên Xô tổ chức các chương trình ngắn hạn một năm riêng cho cán bộ Việt Nam sang học ở Học viện Vô-rô-si-lốp.

Khi đồng chí Hồ Quang Hóa chuyển sang công tác khác, tôi được bổ nhiệm làm Trường phòng Giáo luyện. Phòng được bổ sung thêm các đồng chí Bùi Công Ái, Trần Độ là hai vừa tốt nghiệp trường Phơ-run-de về. Nguyễn Kim học ở Triều Tiên về, Lê Quang San tốt nghiệp học viện Trung Quốc, Nguyễn Thế Nguyên kỳ cựu ở Bộ Tổng Tham mưu có nhiều kinh nghiệm của cơ quan chiến lược, Nguyễn Văn Lung cán bộ tham mưu giỏi.

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, phương châm tác chiến thời kỳ đầu chiến tranh là “Phòng ngự tích cực”, phương thức tác chiến là “Đánh vận động kết hợp đánh trận địa và đánh du kích”. Về chiến dịch, quân đội ta tập trung nghiên cứu hai hình thức: chiến dịch tiến công trên địa hình trung bình và tiến công trên địa hình rừng núi; chiến dịch phòng ngự bờ biển.

Biên soạn tài liệu là chức trách của Cục Khoa học Quân sự, nhưng Phòng Giáo luyện biên soạn riêng một tài liệu để làm cơ sở thống nhất làm tưởng định diễn tập. Nó có tính chất vận dụng cả hai loại địa hình trung bình và rừng núi, đồng thời vận dụng chiến thuật, chiến dịch khác tài liệu của Liên Xô.

Về chiến thuật chiến dịch tiến công: Luôn tránh vỗ mặt mà đánh nhiều hướng để thực hiện bao vây chia cắt thọc sâu đánh tiêu diệt. Chưa có xe tăng, pháo binh có ít, còn dùng bộc phá phá rào theo kỹ thuật mới (“rồng lửa”). Có phối hợp với du kích và bộ đội địa phương.

Về phòng ngự: Áp dụng phòng thủ khu vực có trọng điểm với lực lượng cơ động mạnh để phản kích, phản đột kích (về chiến dịch) và phản công kết hợp tác chiến ba thứ quân.

Về sau, khi Mỹ bắt đầu tiến hành “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam thì chiến dịch tiến công phát triển nhiều hình thức và quy mô như đã chuẩn bị, xuất hiện khá phổ biến hình thức “vây lấn” như ở chiến trưởng Trị - Thiên. Nhưng phòng ngự chiến dịch ít diễn ra, chỉ một lần ở Quảng Trị.

Về công tác tham mưu, nói rộng ra là công tác tổ chức chiến đấu, ta tập trung: huấn luyện cho cán bộ chỉ huy thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, thủ trưởng phụ trách; Đảng ủy thông qua quyết tâm, thủ trưởng giao nhiệm vụ và tổ chức hiệp đồng rồi chỉ huy thực hành chiến đấu, chiến dịch. Ở đại đội khi có điều kiện thì họp đại đội bàn thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.

Về diễn tập, đây được coi là biện pháp quan trọng để nâng cao trình độ cán bộ chỉ huy và cơ quan, đồng thời để nâng trình độ sẵn sàng chiến đấu của các quân khu nhất là quân khu ven biển và khu giới tuyến.

Tháng 10 năm 1959, Bộ tổ chức lần đầu tiên ở Quân khu Hữu Ngạn diễn tập chỉ huy và cơ quan ba cấp: Quân khu, sư đoàn, trung đoàn và tỉnh đội. Đồng chí Lê Trọng Tấn – Phó tổng tham mưu trưởng trực tiếp chỉ đạo diễn tập, bảo đảm Quân khu chấp hành nghiêm chỉnh. Phòng Giáo luyện làm trung tâm, thêm cán bộ các tổng cục, các quân binh chủng làm cơ quan chỉ đạo. Tôi làm Tham mưu trưởng.

Theo số đơn vị có cơ quan diễn tập, chúng tôi huy động cán bộ ở đơn vị lên để tổ chức ra các “tổ đạo diễn đáy”. Những tổ quan trọng thì không cử cán bộ ra làm tổ trưởng. Điều quan trọng là cán bộ của đơn vị lên làm “đáy” phải theo sự chỉ đạo của Bộ và giữ bí mật tuyệt đối nội dung.

Chúng tôi phải làm ba văn kiện. Chỉ thị diễn tập để gửi cho đơn vị để có chuẩn bị. Còn kế hoạch diễn tập và tưởng định diễn tập được đồng chí Tấn thông qua, làm cơ sở cho cơ quan chỉ đạo diễn tập chuẩn bị nội dung công việc của từng bộ phận. Tôi phải hiệp đồng cán bộ cho thống nhất để cho cuộc diễn tập diễn ra thông suốt từ đầu chí cuối như kịch bản “một gánh hát” (như tên các quân khu thân mật đặt cho chúng tôi).

Cuộc diễn tập bắt đầu bằng một cuộc báo động đưa các cơ quan tham gia đến vị trí quy định như vị trí tập kết thời kỳ đầu chiến tranh (khác vị trí thực tế của kế hoạch tác chiến để giữ bí mật). Nội dung này rất quan trọng nhằm bảo đảm cho cơ quan sẵn sàng chiến đấu cao, tránh khỏi bị bất ngờ thời kỳ đầu chiến tranh.

Sau khi diễn tập, đồng chí chỉ đạo trưởng có nhận xét rút kinh nghiệm kèm theo chỉ thị những biện pháp cụ thể Quân khu phải thực hiện để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu hơn nữa.

Cuộc diễn tập này đã mở ra triển vọng diễn tập quy mô lớn nhằm đáp ứng từng bước hoàn thiện phương án tác chiến theo yêu cầu bảo vệ miền Bắc khi có chiến tranh.

Từ năm 1962 trở đi, năm nào cũng vậy, cứ hết mùa huấn luyện của cán bộ và đơn vị là ta lại tổ chức diễn tập một Quân khu.

Riêng khu giới tuyến thì Bộ giao Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ đạo, Phòng Giáo luyện xuống giúp Quân khu chỉ đạo.

Nhờ diễn tập, các cơ quan Quân khu tiến bộ nhiều. Năm 1965, địch bắt đầu ném bom miền Bắc. Ngày đầu tiên, Quân khu Đông Bắc và Quân khu 4 đã bắn rơi máy bay.

Trong những năm này, Phòng Giáo luyện đã hoàn thành nhiệm vụ:

- Giúp Bộ nghiên cứu xây dựng cách đánh mới phù hợp với tình hình mới ở Việt Nam. Mặc dù công việc mới mẻ phải học tập bạn Liên Xô, Trung Quốc nhưng không mắc phải giáo điều.

- Giúp Bộ huấn luyện và rèn luyện cho cán bộ, cơ quan cấp Quân khu nâng cao trình độ chỉ huy và sẵn sàng chiến đấu.

- Sau này khi Mỹ bắt đầu chiến tranh cục bộ, các cơ quan đã giúp Bộ tổ chức, chỉ huy các chiến dịch ở khu vực Đường 9, Quảng Trị rất thuận lợi.

Bản thân tôi cùng cán bộ Phòng Giáo luyện được học tập nâng cao trình độ lên một bước: Được học tập ở Học viện Vô-rô-si-lốp ở Liên Xô, tham gia nghiên cứu và chỉ đạo diễn tập dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê Trọng Tấn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn