Cựu chiến binh

Mỹ Nhơn chống kế hoạch bình định của Mỹ - ngụy, hưởng ứng cuộc tấn công xuân Mậu Thân 1968

Vĩnh Long19/11/2025Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Để cứu vãn sự sụp đổ của chiến lược chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở chiến trường miền Nam đồng thời mở rộng hoạt động không quân và hải quân, tiến hành đánh phá miền Bắc để thực hiện chiến tranh cục bộ. Mỹ tăng cường cố vấn, sử dụng hỏa lực của không quân và pháo binh đánh phá có tính chất hủy diệt vùng giải phóng và yểm trợ cho lực lượng ngụy quân tiến hành càn quét, bình định. Mặt khác, chúng tăng cường bắt lính, đôn quân, tổ chức hệ thống cảnh sát, tình báo đánh vào vùng giải phóng, sử dụng biệt kích và những tên đầu hàng, phản bội đánh phá cơ sở cách mạng. Địch đẩy mạnh chương trình “xây dựng nông thôn”, “viện trợ”, phát triển giáo dục, y tế,… nhằm lừa bịp Nhân dân.

Tháng 5/1965, Huyện ủy Ba Tri tổ chức hội nghị Huyện ủy mở rộng tại rừng Mõng xã Tân Xuân, thời gian 4 ngày để phổ biến tình hình cách mạng, vạch rõ âm mưu mới của Mỹ, nêu quyết tâm chống phá bình định của địch. Hội nghị đã kiểm điểm đánh giá tình hình địa phương và nêu nhiệm vụ cụ thể là củng cố lập trường, tư tưởng cán bộ đảng viên, giáo dục cho quần chúng vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng và nêu quyết tâm đánh Mỹ, ổn định tổ chức, chấn chỉnh lực lượng, tích cực chống càn quét bảo vệ vùng giải phóng. Ba Mỹ được chọn làm điểm tập trung chỉ đạo, chọn sẵn một số cán bộ có điều kiện ở lại bám địch nhưng đồng thời Huyện ủy cũng phát động toàn huyện đẩy mạnh ba mặt tấn công để giảm sức ép cho vùng điểm.

Cuối tháng 04/1966, địch đưa 1 chi đoàn xe M113, 2 tiểu đoàn Trung đoàn 10, Sư đoàn 7 ngụy, 1 đại đội trinh sát, 8 đại đội Bảo an tiểu khu và chi khu cùng với 12 đoàn bình định để tiến hành bình định trọng điểm Ba Tri[1]. Trực tiếp chỉ huy cuộc bình định này có tên Thiếu tướng Trần Thanh Phong đặc trách bình định trung ương, tên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 và tên Tỉnh trưởng Bến Tre. Kế hoạch này chia làm 2 bước: bước 1 từ tháng 4 năm 1966 đến năm 1966, địch tập trung quân chiếm vùng Ba Mỹ. Bước thứ hai từ tháng 7/1966 đến tháng 2/1967, lấn chiếm các xã Tân Xuân, Phú Lễ, Phú Ngãi, Phước Tuy (nay là Phước Ngãi).

Sáng ngày 20/04/1966, pháo của địch từ Ba Tri, Giồng Trôm và Bình Đại bắn trên 500 quả, 2 phản lực và 10 trực thăng đến oanh kích vào địa hình các xã Mỹ Nhơn, Mỹ Chánh Hòa, Mỹ Thạnh, vùng căn cứ rạch Vọp, Tân Xuân. Sau đợt bom, pháo dọn bãi, 4 tiểu đoàn ngụy và 12 xe M113 có trực thăng yểm trợ chia làm 4 mặt tấn công vào khu vực Ba Mỹ. Sau ba ngày thì địch chiếm được Ba Mỹ, tập hợp 130 thanh niên là tín đồ Cao đài lập một đại đội bảo an mang phiên hiệu 995 do tên Nguyễn Tấn Nghiệp chỉ huy, lập căn cứ đạo tại Mỹ Chánh, với kế hoạch đánh nhanh, lấn nhanh, chiếm đến đâu thì đóng đồn bót đến đó. Đầu tiên địch đóng đồn ở đầu giồng (chùa Phật hiện nay) do tên Khoai làm Trưởng đồn, lực lượng thường trực khoảng một trung đội dân vệ. Tiếp theo, địch đóng đồn trên địa bàn ấp IV với một trung đội dân vệ thường trực, do tên Ngôn - Cảnh sát trưởng làm Trưởng đồn. Vừa củng cố hệ thống đồn bót, địch vừa lập lại bộ máy tề, đưa tên Khoai lên làm Đại diện.

Trước tình hình địch đẩy mạnh bình định, chi bộ quyết định đưa người già yếu bệnh tật, trẻ em và lực lượng vũ trang, du kích xuống căn cứ Lạc Địa tạm lánh, lực lượng còn lại bám dân để hoạt động.

Ngày 30/3/1966 âm lịch, tên Nhỏ - du kích Mỹ Nhơn đầu hàng địch, chỉ điểm khui hầm bí mật bắt một số đồng chí: Nghĩa Bún (đặc công huyện Ba Tri), Đồng Văn Khâm, Nguyễn Văn Khả, Lê Văn Nghĩa. Chúng phát hiện và bắt đồng chí Đỗ Văn Cược - phó Bí thư kiêm Xã đội chánh (Chính trị viên Xã đội) Mỹ Nhơn. Địch dùng nhiều hình thức để dụ dỗ mua chuộc nhưng không được, chúng chuyển sang tra tấn nhưng không nhận được lời khai báo nào mà đồng chí còn lớn tiếng chửi lại. Rất dã man, địch đã quật đồng chí nằm ngửa trên cọc đá cao 0,3 m rồi thay nhau đạp lên người cho đến khi đồng chí Cược trút hơi thở cuối cùng. Gương hy sinh của đồng chí Cược đã để lại sự tiếc thương cảm phục của đồng đội và quần chúng.

Trước âm mưu và thủ đoạn mới của địch, ngày 10/5/1966, Huyện ủy Ba Tri đã họp hội nghị mở rộng tại rừng Mõng xã Tân Xuân với hơn 40 đại biểu các ban ngành huyện và Bí thư chi bộ các xã tham dự. Trên cơ sở đánh giá tình hình, so sánh lực lượng giữa ta và địch, Huyện ủy đề ra nhiệm vụ cấp bách trước mắt: xem công tác chính trị tư tưởng trong Đảng, lực lượng vũ trang và quần chúng là vấn đề then chốt, chú trọng phân hoá tín đồ Cao đài Tây Ninh để có kế hoạch vận động theo đúng chính sách. Tổ chức và phát động quần chúng đấu tranh chính trị; kiện toàn lực lượng chiến đấu, củng cố các đội du kích và tự vệ mật, bổ sung cán bộ trẻ cho các đơn vị vũ trang huyện và xã. Quyết tâm của Huyện ủy là đẩy mạnh chốngbình định, phải có ý thức tự lực tự cường, không ỷ lại trông chờ sự chi viện củatrên.

Trong thời gian diễn ra hội nghị Huyện ủy mở rộng, địch tập trung lực lượng đánh vào các xã phía đông bắc Ba Tri (gồm cả Mỹ Nhơn), đánh phá rừng Lạc địa nhưng gặp phải sự phản kháng của quần chúng. Những trận càn vào các xã, địch bị sụp hầm chông, bãi chông, bị vướng mìn nên số lượng địch chết và thương vong không ít. Địch trả đũa bằng cách dùng máy bay rải xăng đặc và bom napan phá hủy địa hình lõm căn cứ Lạc địa. Mặt khác, chúng còn đẩy mạnh hoạt động do thám, biệt kích và chiến tranh tâm lý. Sự phản công liên tục của địch đã gây cho ta nhiều khó khăn: nhà cửa bị thiêu hủy, Nhân dân phải tản cư hoặc giạt ra đồng sinh sống, cuộc sống không ổn định.

Lực lượng du kích xã tiếp tục bám vùng yếu, chủ động tiến công địch. Tháng 10/1966, lực lượng vũ trang kết hợp với nội tuyến phục kích trước cửa đồn lộ giồng diệt 4 tên lính dân vệ, thu 3 khẩu súng. Đội du kích xã kết hợp với địa phương quân huyện tập kích diệt một tiểu đội địch đóng gần chợ Móng.

Đầu năm 1967, đồng chí Trần Văn Ngưng chuyển địa bàn công tác, Huyện ủy chỉ định đồng chí Lê Quang Nho làm Bí thư chi bộ Mỹ Nhơn. Chi bộ đã mở đợt sinh hoạt chính trị giúp cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhận rõ tình hình mới, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và động viên quân dân trong xã nêu cao quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Toàn đảng, quân, dân Mỹ Nhơn thực hiện phương châm ba bám: cán bộ bám dân, dân bám làng xã chiến đấu và sản xuất, du kích bám địch để đánh. Quân dân Mỹ Nhơn vừa bám địa bàn sản xuất vừa chiến đấu, đóng góp nhiều nguồn nhân, vật lực cung cấp về trên chi viện cho các chiến trường.

Bên cạnh hoạt động quân sự, trong giai đoạn này, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển khá mạnh. Địch bắn pháo đêm rơi trúng nhà làm chết hai vợ chồng ông Trần Văn Ân để lại 4 đứa con nhỏ không nơi nương tựa. Ta vận động quần chúng khiêng xác nạn nhân đến dinh quận đấu tranh, quận trưởng hứa bồi thường và cấp dưỡng cho các con của ông Ân.

Tháng 3/1967, địch sử dụng lực lượng sư đoàn 7 với sự yểm trợ của thiết giáp đánh vào căn cứ Lạc địa đồng thời rải thuốc khai quang làm cây cối nơi đây trơ lá trụi cành. Huyện ủy chỉ đạo các lực lượng bám tại đây phải di dời đi nơi khác, lực lượng của Mỹ Nhơn sang bám trụ ở rạch Vọp, Châu Bình, ban đêm lần về xã bám dân hoạt động; một bộ phận có điều kiện thì ở lại bám trong dân xây dựng hầm bí mật để hoạt động. Trong hoàn cảnh khó khăn, Nhân dân Mỹ Nhơn vẫn một lòng trung thành với cách mạng không sợ tù đày, chết chóc đã đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ kể cả những cán bộ của huyện đến bám trụ hoạt động. Nhiều hầm bí mật đã được xây dựng ở nhà ông Nguyễn Văn Ửng, bà Lê Thị Tạo, Sáu Đệ, Mười Nho, Mười My…. và nhiều gia đình khác nữa. Bà Quảng Thị Phèn, nhà cách bót chính chưa đầy 150m nhưng bà đã làm một trản xê, bên dưới là hầm bí mật khá rộng, đây là nơi cán bộ huyện về trú ẩn chỉ đạo phong trào vùng Ba Mỹ. Hàng ngày địch lùng sục từng nhà, dò mìn từng con đường, những nơi chúng tình nghi. Đồng chí Trần Văn Thẹo là cán bộ binh vận huyện về bám trụ tại Mỹ Nhơn, trú trong trảng xê của bà Quảng Thị Phèn, bàn kế hoạch với địa phương phối hợp du kích, đội vũ trang của xã, huyện để lấy đồn chính Mỹ Nhơn. Do bị chỉ điểm, địch phát hiện ra nơi ở của đồng chí Thẹo, chúng cho quân bao vây nhà bà Phèn và kêu gọi đồng chí đầu hàng nhưng đồng chí đã ném lựu đạn làm bị thương một tên địch, bọn chúng ném lựu đạn và bắn liên tục vào trảng xê, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Địch bắt bà Quảng Thị Phèn đánh đập khảo tra rất dã man, dùng dây cột vào cổ bà rồi kéo lê trên mặt đường nhưng bà kiên quyết không khai báo. Chúng truy lùng các con của bà nhưng không bắt được ai, cuối cùng chúng đốt nhà và đưa bà về Bến Tre giam cho đến khi hiệp định Pari được ký kết bà mới được trả tự do. Chính nhờ những hầm bí mật, những cơ sở cách mạng vững vàng này giúp cho cách mạng vượt qua được khó khăn, hạn chế được những tổn thất trong thời kỳ địch đẩy mạnh bình định.

Sau hai năm thực hiện chiến tranh cục bộ Mỹ - ngụy gặp nhiều khó khăn, mục đích không đạt được. Đến cuối năm 1967, về cơ bản ta đã bẻ gãy gọng kìm bình định, ngăn chặn kế hoạch lấn đất dành dân của địch.

Phong trào chống bình định đang trên đà phát triển, nhận được chủ trương của Tỉnh ủy “chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công nổi dậy xuân 1968”. Huyện ủy Ba Tri họp hội nghị mở rộng quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy và chỉ đạo cho các xã xúc tiến công tác chuẩn bị phối hợp cùng chiến trường chung.

Chuẩn bị cho xuân 1968, Mỹ Nhơn đã đưa lực lượng đi dân công hỏa tuyến như Năm Lai, Năm Phùng, nhiều cán bộ của ấp, các ban ngành… Lực lượng này đã tiếp đạn, tải thương, phục vụ cho đợt tấn công vào thị xã Bến Tre. Những quần chúng không có điều kiện tham gia đội dân công thì gói bánh, chuẩn bị tiếp tế cho bộ đội, du kích.

Quân dân Mỹ Nhơn vừa chuẩn bị lực lượng vừa tấn công tiêu hao địch, đứng chân bao vây đồn bót, dồn tất cả lực lượng giải phóng xã. Đúng 1 giờ đêm mồng một rạng mồng hai tết Mậu Thân 1968, Ba Tri cùng với toàn miền Nam nổi dậy tấn công địch, đội du kích xã đã phục kích tại đầu giồng diệt 5 tên dân vệ biệt kích. Nhưng lúc bấy giờ lực lượng địch còn đang mạnh, chúng tổ chức phản kích nên ta tổ chức rút lui. Dù Mỹ Nhơn không phải là xã điển hình trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 nhưng quân dân Mỹ Nhơn đã góp phần làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt chiến tranh phá hoại ở miền Bắc và đồng ý ngồi vào bàn đàm phán với ta ở hội nghị Pari.


[1] Báo cáo tổng kết chống phá bình định huyện Ba Tri từ 1966 đến 1974, bản đánh máy, trang 4

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn