Mỹ Nhơn tự nhiên và con Người qua ký ức của chú Huỳnh Ngọc Trần
Mỹ Nhơn là một trong 22 xã, thị trấn của huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nằm ở vị trí trung tâm của huyện, cách thị trấn Ba Tri 7 km, trên đường ĐH.10 về khu vực các xã Bốn Mỹ, ... Phía Đông Mỹ Nhơn giáp xã Tân Xuân, Phước Ngãi, Phú Lễ; phía Tây giáp xã Mỹ Thạnh; phía Nam giáp xã An Bình Tây và phía Bắc giáp xã Mỹ Chánh.
Thời vua Minh Mạng, địa bàn của thôn Mỹ Nhơn rất rộng, phía Đông giáp các thôn Tân Trang, Phước Tuy, Phú Ngãi (nay là xã Phước Ngãi), phía Tây giáp 2 thôn An Ngãi Trung, An Bình Tây (tổng Bảo an), thôn Bình Hoà, thôn Bình Long (tổng Bảo Lộc), Nam giáp 2 thôn An Ngãi Trung, An Bình Tây (tổng Bảo An) tỉnh Vĩnh Long, Bắc giáp thôn Bình long (Bảo Lộc). Thực canh điền thổ là 1758 mẫu[1]. Địa hình của xã là một giồng cát, có hình dạng như chữ “Nhứt”. Ngày nay, xã có 4 ấp, phía Tây là Nhơn Phú, Nhơn Quới (ấp 1, ấp 2), phía Đông là Nhơn Thuận, Nhơn Hoà (ấp 3, ấp 4). Diện tích của xã gần 1.200 ha. Dân cư sống tập trung ở hai bên đường làng từ xưa đến nay, có chiều dài ước khoảng 3 km từ đầu giồng, đến ngã ba (Ba Mỹ), chiều rộng kéo dài từ triền gò đến triền bưng trên 1km, nơi có chiều rộng lớn nhất là ấp Nhơn Phú (còn gọi là ấp Diều Gà - ngày xưa).
Đây là vùng đất phù sa, màu mỡ được hình thành từ bờ biển xa xưa và dòng sông Ba Lai bồi tụ nên. Trước năm 1945, những rạch lớn chảy ra sông Ba Lai có rạch Mỹ Nhiên, theo ranh làng Mỹ Chánh Hòa và Tân Xuân đến ranh làng xã Mỹ Nhơn. Hiện nay, rạch này chỉ còn là con kênh nhỏ từ đầu làng nối liền với ấp Giồng Găng, xã Tân Xuân. Mỹ Nhơn có rất nhiều con kênh lớn nhỏ, từ kênh 9A, kênh Tự chảy lấy nước từ sông Hàm Luông, chảy qua cống Cây Da, xã Tân Thanh của huyện Giồng Trôm, qua Mỹ Chánh, Mỹ Thạnh về Mỹ Nhơn, Phước Ngãi, Bảo Thạnh. Giữa hai cánh đồng Bưng và cánh đồng Gò là những con kênh tưới và kênh tiêu chằng chịt để cấp nước, rửa chua và xả phèn, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả cho gần 700 ha đất ruộng, có điều kiện thâm canh, tăng vụ. Trên cánh đồng Bưng, từ xa xưa, đến đầu thế kỷ thứ XX, nơi đây còn rất hoang vu, chỉ có những loài thảo mộc um tùm, cá nhiều vô số kể, có cả rắn, trăn, rái cá và cá sấu, đến mùa nước cạn người dân quanh vùng vào đây tát đìa để bắt cá - nơi đây còn gọi là Lạc Địa (Liệt Địa), là vùng nước ngập không có cây cao, chỉ có lùm bụi thấp và cỏ dại. Chuyện kể rằng, nơi đây có những con rắn rất to hàng đêm khấu đầu nhau để tát đìa, bắt cá, cho nên người dân ít khi đến nơi này. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, bưng Lạc Địa (nằm giữa Mỹ Nhơn, An Bình Tây và Phú Lễ, Phước Ngãi) là vùng căn cứ địa cách mạng của huyện Ba Tri, một trong những chiến khu của tỉnh.
Về thổ nhưỡng của Mỹ Nhơn, chủ yếu là đất cát giồng rất thích hợp với loại cây lâu năm. Ngày xưa, canh tác chủ yếu là trồng tre, dâu nuôi tằm, dệt vải, vì vậy Mỹ Nhơn là một trong những xã nổi tiếng về tơ lụa. Sau này, do thấy không hiệu quả, người dân bắt đầu trồng cây ăn trái, như xoài, vú sữa, me nên ở giữa giồng có địa danh là Hàng Xoài từ xưa đến nay. Ngoài ra, đất ruộng của hai cánh đồng là đất sét pha cát qua nhiều năm cải tạo, rất thích hợp với cây lúa, đây là thế mạnh của xã, mà người dân bao đời nay ở nơi đây rất siêng năng và cần mẫn khai thác, mở rộng sản xuất kết hợp với chăn nuôi để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là trong chiến tranh người dân không chỉ sản xuất phục vụ cho cuộc sống gia đình mà còn thực hiện nhiệm vụ góp gạo nuôi quân, nuôi những người cách mạng trong căn cứ kháng chiến, những người cách mạng sống trong lòng dân. Sau hoà bình lập lại, dưới sự lãnh đạo Đảng bộ tỉnh và huyện về tập trung phát triển kinh tế vùng Ba Mỹ, Mỹ Nhơn tiếp tục đầu tư lớn cho việc nạo vét những con kênh, thủy lợi nội đồng, thì vùng đất này lại càng phát huy hiệu quả, sản xuất thâm canh, tăng lên hai, ba vụ trong năm, với năng suất chất lượng hiệu quả lên gấp mười lần so với những ngày đầu giải phóng, tạo nên dáng hình của Mỹ Nhơn như ngày hôm nay.
Về đường bộ, Mỹ Nhơn có đường liên xã, tại trung tâm hành chính của xã đi theo đường ĐH.10 qua An Bình Tây, Thị trấn Ba Tri ra Quốc lộ 57C đi Thành phố Bến Tre; hoặc đi qua Mỹ Thạnh, Mỹ Chánh, Mỹ Hoà; hoặc theo đường ĐH.10 ra huyện Giồng Trôm; hoặc theo hướng khác, từ Mỹ Thạnh đi xã An Phú Trung, An Ngãi Trung ra Quốc lộ 57C. Qua đó, cho thấy Mỹ Nhơn là giao điểm giữa vùng Bốn Mỹ và thị trấn Ba Tri, đây là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong tương lai.
Về địa lý hành chính của xã Mỹ Nhơn qua các thời kỳ lịch sử, cũng như các nơi khác của huyện Ba Tri, vùng đất Mỹ Nhơn thuộc tổng Tân An, là tổng có cư dân đến khai phá sớm nhất và dân cư đông đúc hơn các nơi khác trong tỉnh thời bấy giờ, tức vào cuối thế kỷ thứ XVII và đầu thế kỷ thứ XVIII.
Vào cuối thế kỷ XVIII, cù lao Bảo thuộc tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Phiên Trấn. Sau khi Gia Long lên ngôi vua, có chủ trương sửa đổi, phân chia lại khu vực hành chính, thì châu Định Viễn được thăng lên phủ Định Viễn, cù lao Bảo là tổng An Bảo. Năm 1808, tổng An Bảo (tức cù lao Bảo) gồm 63 làng, trong đó có làng Mỹ Nhơn.
Đến triều Minh Mạng, 1832, tổng An Bảo được thăng lên huyện với tên mới là Bảo An. Đến năm 1837, nghĩa là sau khi lập xong “Địa bạ Minh Mạng”, thì huyện Bảo An được chia thành hai huyện: Bảo An và Bảo Hựu. Mỹ Nhơn thuộc huyện Bảo An, tổng Bảo Thuận, phủ Hoằng An, tỉnh Vĩnh Long.
Ngày 1-1-1900, thực hiện Nghị định của Toàn quyền Paul Doumer ký ngày 20-12-1899, thành lập tỉnh Bến Tre, gồm cù lao Bảo và cù lao Minh. Năm 1912, thành lập quân Ba Tri. Mỹ Nhơn thuộc tổng Bảo Thuận, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Từ năm 1945, Mỹ Nhơn còn có tên là làng Mỹ Nhiên, tổng Bảo Thuận, quận Ba Tri.
Về cư dân và văn hóa, theo các nhà Sử học, thôn Mỹ Nhơn thuộc tổng Tân An, là nơi có người đến khai phá sớm nhất và dân cư đông đúc nhất so với các nơi khác trong vùng, đến đầu thế kỷ thứ XX có số dân 1.302 người[2], qua bao thế kỷ họ cùng nhau đoàn kết một lòng chống chọi với thiên tai, thú dữ và giặc giã để tồn tại và phát triển. Đến năm 1999, tổng điều tra dân số cả nước, Mỹ Nhơn có 1.513 hộ, với 6.646 nhân khẩu, trong đó nữ chiếm 3.393 người. Qua tổng điều tra dân số 2009 thì số dân của xã có 7.972 nhân khẩu. Nguồn gốc người dân, theo gia phả dòng tộc của những người dân nơi đây để lại, như gia phả Lê Quang Lục và ông Lương Văn Chỉ đã ghi lại tổ tiên là người gốc miền Trung (Quảng Nam, Quảng Ngãi) vào Nam khai khẩn đất hoang từ giữa thế kỷ thứ XVII, XVIII. Đến đầu thế kỷ XIX có cả lưu dân người Hoa đến sinh sống, các thế hệ con cháu của họ sống chan hòa với người Kinh.
Trong quá trình khai phá, do phải sống chống chọi với biết bao khó khăn từ buổi đầu khai phá, nên dân làng sống rất có tình, có nghĩa, cố kết cộng đồng, trở thành truyền thống quý báu của người Mỹ Nhơn. Từ thời vua Tự Đức, triều đình đã ra sắc phong thần cho Mỹ Nhơn, được dân làng quý trọng, thờ cúng từ xưa đến nay, nguyên văn Sắc thần: “NGHĨA DŨNG KIÊN TRUNG NHƯ THẦN”, thôn Mỹ Nhơn, tổng Bảo Thuận, tỉnh Vĩnh Long. Nội dung đã chứa đựng truyền thống đạo đức tốt đẹp, cô đọng nhất của cha ông, được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ngoài ra từ những câu thơ Đồ Chiểu, đức tính tốt đẹp như Lục Vân Tiên, cũng được người dân yêu thích, gìn giữ và lưu truyền qua các thế hệ. Người xưa đặt tên các ấp Phú, Quới, Thuận, Hoà ghép chữ nhơn ở trước như Nhơn Phú, Nhơn Quới… để gửi gắm ước muốn về một cuộc sống tốt đẹp.
Khi giặc Pháp xâm lược đất nước ta, đến vùng đất Ba Tri, người dân Mỹ Nhơn đứng lên chống giặc quyết liệt, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Họ rất ngưỡng mộ những nhà yêu nước như nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, lãnh tụ nghĩa quân Phan Tòng, người anh hùng Lê Quang Quan. Đầu thế kỷ XX, nhiều người dân trong xã đã tham gia vào Thiên địa hội, hội Khuyến học và hình thành những nhóm nhân sĩ yêu nước. Từ trong phong trào yêu nước, những người yêu nước đã sớm đến với Đảng và trở thành những đảng viên cộng sản lãnh đạo Nhân dân đấu tranh chống xâm lược giành độc lập, tự do cho dân tộc. Lịch sử đấu tranh của Nhân dân Mỹ Nhơn bước sang một trang mới.
[1] Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn, phần tỉnh Vĩnh long, Maison D’editions de HO CHI MINH – VIILE 1994, 218. [2] Địa phương chí tỉnh Bến Tre năm 1903.



