Cựu chiến binh

năm 1958 trên chiến trường Điện Biên

Tháng 5/1958. Nắng từ đỉnh đồi gay gắt hắt xuống lòng chảo Điện Biên, khiến không khí trở nên oi bức. Từ phía Tây Trang, gió Lào cũng ngùn ngụt lùa về bỏng rát. Vừa lau mồ hôi, cựu binh Trần Quang Hữu vừa nheo nheo mắt, nhìn đăm đăm vào khoảng đất đầy cỏ voi và lởm chởm những hố mìn tại C17 mà anh và đơn vị được phân về. Một màu xám xịt, u ám trải dài ra trước mắt người “nông binh” trẻ vừa được làm lễ… hạ sao. Nhớ lại những ngày đầu tiên, ông Hữu vẫn… rùng mình. 4 năm sau ngày chiến thắng, châu

Lai Châu11/02/2026BCH Đoàn xã Mường Khoa (BCH Đoàn xã Mường Khoa)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 5/1958. Nắng từ đỉnh đồi gay gắt hắt xuống lòng chảo Điện Biên, khiến không khí trở nên oi bức. Từ phía Tây Trang, gió Lào cũng ngùn ngụt lùa về bỏng rát. Vừa lau mồ hôi, cựu binh Trần Quang Hữu vừa nheo nheo mắt, nhìn đăm đăm vào khoảng đất đầy cỏ voi và lởm chởm những hố mìn tại C17 mà anh và đơn vị được phân về. Một màu xám xịt, u ám trải dài ra trước mắt người “nông binh” trẻ vừa được làm lễ… hạ sao.

Nhớ lại những ngày đầu tiên, ông Hữu vẫn… rùng mình. 4 năm sau ngày chiến thắng, châu Điện Biên vẫn chằng chịt những giao thông hào và dây thép gai. Hai bên đường toàn cây chó đẻ, cỏ gianh… cao quá đầu người. Những chiến sĩ năm xưa ngay lập tức phải trần lưng dưới nắng nóng để gỡ dây thép gai, lấp giao thông hào, đào mương thủy lợi…

Nguy hiểm nhất là bom mìn còn sót lại khiến cho công cuộc tái thiết, xây dựng cuộc sống mới càng trở nên gian nan hơn. Ông Hữu từng chứng kiến đồng đội mình khi gỡ dây thép gai đạp trúng mìn. Vụ nổ ràn rạt hơi nóng, ngay lập tức thổi bay một phần cơ thể của người nông binh. Cánh lính mới đặc biệt sợ mìn cóc, loại mìn khi gặp phải sẽ nhảy lên ngang ngực mới phát nổ.

Vào thời điểm này, sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Ngay cả cánh đồng Mường Thanh, vốn nổi tiếng toàn vùng Tây Bắc cũng chủ yếu bị bỏ hoang và chịu sự tàn phá dữ dội của chiến tranh. Vì vậy, sản lượng làm ra không đủ ăn.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, những năm diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ, trên địa bàn tỉnh chỉ trồng lúa được 1 vụ, còn 1 vụ bỏ hoang; năng suất cây lúa chỉ hơn 10 tạ/ha; đến năm 1963 năng suất lúa mới chỉ đạt hơn 20 tạ/ha, ngô đạt hơn 9,4 tạ/ha… Thời điểm đó, cả tỉnh phải phụ thuộc vào nguồn trợ cấp lương thực từ Trung ương và huy động hỗ trợ từ các địa phương khác trong cả nước.

Xòe bàn tay đầy vết chai sần, ông Hữu tiếp tục kể: “Vốn quen cầm súng, bước vào giai đoạn mới phải nắm chắc tay cầy, cây cuốc, anh em đều khá bỡ ngỡ. Chúng tôi có câu thơ: Giơ cuốc lên thì cò đậu, bổ cuốc xuống thì mối xông để nói về sự lóng ngóng lúc ban đầu này. Nhưng tất cả vẫn quyết tâm với tinh thần cày cuốc là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ”.

Làm đã vất vả, chuyện ăn ở cũng… chẳng giống bình thường. Lính đồng bằng đã quen với cơm tẻ lên đất mới Tây Bắc bụng nóng cồn cào vì… đồ nếp và thiếu… rau xanh. Để cải thiện, tranh thủ những chuyến công tác về xuôi, anh em chia nhau mua từng gói rau muống Nam Định, rau lang Mộc Châu, chuối tiêu Hà Nam… về trồng trên những vạt vườn vừa mới lấp.

Phương châm xuyêt suốt thời điểm đó được xác định: Sản xuất trước, quy hoạch sau; trồng trọt trước, xây dựng sau; lấy cây ngắn nuôi cây dài, trồng cây lâu năm và phát triển các ngành nghề khác. Cán bộ nông trường đồng thời hướng dẫn đồng bào các dân tộc phát triển sản xuất và sẵn sàng chiến đấu.

Là cán bộ vận tải, ông Hữu bảo: Điện Biên ngày đó thiếu thốn đủ bề. Đồng bào các dân tộc chưa biết cả thả cá lẫn nuôi lợn, bò như dưới xuôi. Trong khi đó, mãi tới sau này, các kỹ sư nông nghiệp mới được tăng cường nên mọi việc đều phải trông vào… bộ đội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn