Năm 1972 – Bình Định vừa chiến đấu, vừa xây dựng vùng giải phóng
Năm 1972 – Bình Định vừa chiến đấu, vừa xây dựng vùng giải phóng
Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bình Định là một chiến trường đầy gian khổ, ác liệt. Sau những thắng lợi quan trọng trong Xuân – Hè 1972, vùng giải phóng và vùng làm chủ của tỉnh được mở rộng. Trước yêu cầu mới của cách mạng, quân và dân Bình Định không chỉ tiếp tục chiến đấu chống địch phản kích, mà còn khẩn trương xây dựng lực lượng, củng cố hậu phương, ổn định đời sống Nhân dân.
Năm 1972, các mặt công tác của tỉnh đạt được nhiều kết quả rõ rệt. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng đoàn thể và lực lượng quần chúng được quan tâm. Toàn tỉnh kết nạp 1.500 đảng viên, 2.720 đoàn viên thanh niên, 85.970 hội đoàn viên giải phóng; đồng thời xây dựng lực lượng gồm 16.728 du kích xã thôn, tự vệ mật, an ninh vũ trang và dân quân. Đây là nguồn sức mạnh quan trọng, góp phần bảo vệ vùng giải phóng và giữ vững phong trào cách mạng ở cơ sở.
Cùng với đó, tỉnh đã rút 7.500 thanh niên bổ sung cho các lực lượng, mở lớp bồi dưỡng cho 11.350 cán bộ, đảng viên và đoàn viên. Những lớp học trong hoàn cảnh chiến tranh không chỉ trang bị kiến thức, mà còn hun đúc ý chí, nâng cao tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên.
Trên mặt trận hậu cần, Nhân dân Bình Định đã đóng góp to lớn cho kháng chiến. Đồng bào đóng góp 31 triệu đồng, thu mua 7.500 tấn lương thực, 250 tấn muối, huy động 600.000 ngày công phục vụ chiến trường. Mỗi hạt gạo, mỗi ngày công, mỗi đồng tiền đóng góp đều thể hiện tấm lòng son sắt của Nhân dân đối với cách mạng, là nguồn tiếp sức quan trọng cho tiền tuyến.
Không chỉ phục vụ chiến đấu, quân và dân Bình Định còn tích cực khôi phục sản xuất, chăm lo đời sống. Toàn tỉnh khai hoang, phục hóa 1.580 mẫu ruộng đất, gieo cấy trên 60.000 mẫu lúa, trồng mới 18.000 cây dừa, nạo vét 133 km mương, đắp 77 đập bổi, khôi phục 13 bờ xe nước. Những công việc ấy thể hiện tinh thần vừa chiến đấu, vừa sản xuất, quyết tâm xây dựng vùng giải phóng ngày càng ổn định.
Trong điều kiện chiến tranh còn nhiều thiếu thốn, công tác cứu trợ, y tế và giáo dục cũng được chú trọng. Tỉnh đã cấp 130 tấn gạo, 20 tấn muối và 1 triệu đồng cho 10.600 người đói lạt, gặp khó khăn; cứu chữa 23.482 bệnh nhân và người bị thương; tiêm phòng cho 218.500 lượt người. Giáo dục tiếp tục được duy trì với 876 lớp cấp I, II cho 29.749 học sinh và 127 lớp cho gần 3.000 người lớn. Điều đó cho thấy dù bom đạn ác liệt, sự học, sự sống và niềm tin vào ngày mai vẫn được giữ gìn.
Đặc biệt, phong trào quân chúng rào làng chiến đấu, đào hào, làm hầm trú ẩn, hầm tránh pháo, hầm bảo vệ gia súc, xây dựng công sự và ổ tác chiến được phát động rộng khắp. Nhân dân đã đào hàng triệu mét giao thông hào, hàng trăm nghìn hầm trú ẩn, biến làng quê thành thế trận phòng thủ vững chắc. Mỗi căn hầm, mỗi đoạn hào là biểu tượng của ý chí bám đất, giữ làng, bảo vệ thành quả cách mạng.
Câu chuyện Bình Định năm 1972 là một trang sử đẹp trong những năm tháng thời hoa lửa. Đó là câu chuyện về một vùng đất vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa xây dựng đời sống mới trong bom đạn. Từ công tác xây dựng lực lượng, chăm lo dân sinh đến củng cố phòng thủ, tất cả đều thể hiện tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và ý chí kiên cường của quân dân Bình Định.
Chính những đóng góp âm thầm mà to lớn ấy đã tạo nên hậu phương vững chắc, tiếp sức cho tiền tuyến, góp phần giữ vững vùng giải phóng và làm thất bại âm mưu phản kích của địch. Trong gian khổ, Bình Định vẫn sáng lên niềm tin, bản lĩnh và khát vọng độc lập, tự do của một quê hương anh hùng.



