Nắm cơm vắt bên dòng Thạch Hãn
Mùa hè năm 1972, mảnh đất Quảng Trị không có màu xanh, chỉ có màu đỏ của đất bị cày xới và màu xám xịt của khói bom. Tôi khi ấy là một chiến sĩ trẻ thuộc Trung đoàn 95, nhận lệnh vượt sông Thạch Hãn để tiếp viện cho Thành Cổ. Đêm đó, dòng sông không hề yên bình như những câu thơ, nó cuồn cuộn và nồng nặc mùi thuốc súng. Mỗi người lính chúng tôi đều mang theo một bao gạo sấy và những nắm cơm vắt được bọc vội trong lá chuối khô. Khi đặt chân xuống dòng nước lạnh ngắt, pháo sáng của địch bùng lên rực trời, biến mặt sông thành một tấm gương khổng lồ đầy nguy hiểm. Tôi một tay giơ súng lên cao, một tay ghì chặt nắm cơm bên ngực áo để giữ cho nó không bị nước cuốn trôi. Đạn bắn như vãi trấu, tiếng nước tung tóe bên tai khi những người đồng đội quanh tôi ngã xuống. Một mảnh pháo nổ gần khiến tôi chao đảo, nắm cơm trên tay rơi xuống, hòa tan vào dòng nước đỏ ngầu phù sa và máu. Lúc đó, tôi chẳng thấy đói, chỉ thấy một nỗi uất nghẹn dâng lên tận cổ họng vì thương đồng đội. Chúng tôi bám vào nhau, dùng sức trẻ để chống chọi với sức mạnh của dòng nước xiết. Khi bò được lên bờ phía Thành Cổ, quần áo ai nấy đều rách nát và sũng nước. Nhìn lại dòng sông, tôi biết rằng có những người bạn của mình đã mãi mãi nằm lại dưới đáy sông sâu. Nắm cơm ấy có thể đã mất đi, nhưng ý chí giữ vững Thành Cổ thì chưa bao giờ lung lay. Mỗi lần nhìn dòng Thạch Hãn hôm nay, tôi vẫn như thấy bóng dáng mình năm 20 tuổi đang vật lộn với tử thần.


