Nắm đất Cao Bằng trên bàn thờ người thi sĩ ra trận
Thâm Tâm rời đời sống văn chương Hà Nội để làm phóng viên mặt trận. Ông mất dưới chân đèo Mã Phục khi đang theo bộ đội chuẩn bị Chiến dịch Biên giới năm 1950; gia đình chỉ có thể đặt một nắm đất Cao Bằng bên di ảnh ông.
Trong căn nhà của gia đình Thâm Tâm tại Hà Nội, bên tấm Bằng Tổ quốc ghi công và di ảnh nhà thơ từng có một nắm đất được mang về từ Cao Bằng.
Đó không phải đất lấy từ quê hương ông. Nó đến từ miền biên giới, nơi người thi sĩ đã nằm xuống trên đường theo bộ đội đi chiến dịch năm 1950.
Suốt nhiều năm, nắm đất nhỏ ấy thay cho một phần mộ ở quá xa, đồng thời nhắc gia đình rằng chuyến đi cuối cùng của ông vẫn chưa bao giờ thật sự kết thúc.
Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh năm 1917 tại Hải Dương. Ông bước vào làng văn từ trước Cách mạng tháng Tám, viết thơ, truyện và vẽ tranh minh họa cho nhiều tờ báo ở Hà Nội.
Tên tuổi Thâm Tâm được độc giả biết đến nhiều nhất qua “Tống biệt hành”. Tác phẩm gắn với hình ảnh một người ra đi vì chí lớn, chấp nhận để lại phía sau gia đình và tình cảm riêng. Về sau, chính cuộc đời nhà thơ cũng trải qua một cuộc lên đường gần như thế.
Sau Cách mạng tháng Tám, Thâm Tâm không tiếp tục sống như một thi sĩ đứng ngoài thời cuộc. Ông tham gia cách mạng, gia nhập quân đội và làm báo phục vụ kháng chiến.
Ông công tác tại Báo Vệ Quốc quân, một trong những tờ báo tiền thân của Báo Quân đội nhân dân. Tòa soạn khi đó quy tụ nhiều nhà văn, nhà thơ như Thôi Hữu, Trần Đăng, Hoàng Lộc và Vũ Cao. Phần lớn họ không ngồi cố định tại một văn phòng. Người làm báo phải đi theo đơn vị, tới mặt trận, chứng kiến chiến đấu rồi mang tin, bài về giữa điều kiện giao thông vô cùng gian khổ.
Thâm Tâm từng là phóng viên mặt trận rồi đảm nhiệm công việc Thư ký tòa soạn. Ông có mặt tại nhiều chiến dịch và trận đánh ở Việt Bắc, Đông Bắc cũng như đồng bằng Liên khu III.
Từ một nhà thơ nổi tiếng trước chiến tranh, ông học cách làm một tờ báo của người lính. Bài viết phải chính xác, dễ hiểu và phản ánh đúng cuộc sống trong đơn vị. Một sai sót nhỏ về địa danh hay diễn biến chiến đấu có thể khiến bộ đội và nhân dân nghi ngờ cả bản tin.
Có lần, chỉ vì phát hiện một chữ liên quan đến địa danh có thể gây hiểu nhầm, Thâm Tâm đã băng rừng, vượt suối trong mưa lũ để tới nhà in sửa lại cho kịp. Với ông, uy tín của tờ báo được tạo nên từ sự cẩn trọng trong từng chi tiết.
Thâm Tâm cũng không đồng tình với cách viết về người lính bằng những lời lẽ quá bóng bẩy, xa rời thực tế. Tại Hội nghị văn nghệ bộ đội tháng 9 năm 1949, ông trình bày một tham luận dài về văn thơ trong quân đội. Ông cho rằng những hình ảnh được tưởng tượng và tô điểm quá mức không được chính những người lính đón nhận.
Người cầm bút phải sống cùng bộ đội, hiểu những gian khổ thật sự của họ rồi mới có thể viết đúng về họ.
Mùa hè năm 1950, Trung ương quyết định mở Chiến dịch Biên giới. Mục tiêu là tiêu diệt một bộ phận lực lượng Pháp, giải phóng vùng biên giới, khai thông đường liên lạc quốc tế và mở rộng căn cứ Việt Bắc.
Báo Vệ Quốc quân tổ chức một bộ phận tòa soạn đi theo chiến dịch. Các cán bộ, phóng viên xuất phát từ Định Hóa, Thái Nguyên, qua Đông Khê rồi tới huyện Quảng Uyên, nay thuộc huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.
Thâm Tâm nằm trong đoàn lên đường.
Địa hình miền biên giới hiểm trở, những con đường chủ yếu men theo núi và vượt qua nhiều đèo dốc. Phóng viên phải mang theo tư trang, giấy bút và một phần phương tiện làm báo. Họ vừa hành quân vừa chuẩn bị viết, biên tập và tổ chức in báo ngay gần mặt trận.
Trong chuyến đi ấy, Thâm Tâm mắc bệnh nặng. Điều kiện thuốc men tại chiến trường rất thiếu thốn, trong khi sức khỏe ông suy giảm nhanh chóng.
Ngày 18 tháng 8 năm 1950, Thâm Tâm qua đời dưới chân đèo Mã Phục, cách thị xã Cao Bằng khoảng hai mươi kilômét. Ông mới 33 tuổi.
Người thi sĩ không chết trong một trận đấu súng. Ông nằm xuống vì bệnh tật trên đường làm nhiệm vụ, trước khi Chiến dịch Biên giới bước vào những trận đánh quyết định.
Đồng đội và nhân dân địa phương mai táng ông tại vùng đất thuộc huyện Quảng Uyên. Giữa hoàn cảnh chiến tranh, thông tin về ngôi mộ không được truyền về gia đình một cách đầy đủ. Người dân trong bản chỉ nhớ nơi đó có một ngôi mộ của người chiến sĩ trông còn rất trẻ.
Những năm sau hòa bình, hài cốt Thâm Tâm được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ địa phương. Nhưng phải qua một thời gian rất dài, danh tính và câu chuyện về người nằm lại mới dần được nối lại với gia đình.
Con trai ông, tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khoa, lớn lên khi những ký ức về cha chủ yếu đến từ di ảnh, tác phẩm và lời kể của người thân. Bên tấm Bằng Tổ quốc ghi công trong gia đình là nắm đất được lấy từ Cao Bằng, như một phần của người cha trở về nhà.
Năm 2001, bà Phạm Thị An, vợ Thâm Tâm, thực hiện chuyến đi lên Cao Bằng thăm mộ chồng. Đó cũng là chuyến đi xa cuối cùng của bà.
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi người chồng rời Hà Nội. Trên con đường tới miền biên giới, bà đi qua chính những vùng núi mà đoàn phóng viên năm 1950 từng vượt qua bằng đôi chân.
Thâm Tâm thường được nhớ đến như tác giả “Tống biệt hành”. Nhưng phần đời sau năm 1945 của ông còn cho thấy một chân dung khác: người thư ký tòa soạn nghiêm khắc với từng con chữ, phóng viên đi cùng bộ đội và nhà báo chấp nhận có mặt tại nơi gian khổ nhất.
Ông đã viết về những cuộc ra đi trước khi chính mình bước vào chuyến đi không trở lại.
Nắm đất Cao Bằng đặt bên di ảnh vì thế không chỉ tượng trưng cho một ngôi mộ ở xa. Nó là dấu tích của con đường mà một người nghệ sĩ đã lựa chọn: từ văn đàn Hà Nội tới chiến khu Việt Bắc, từ những trang thơ trước cách mạng tới tờ báo của người lính giữa một chiến dịch lớn.
Người ra đi đã nằm lại dưới chân đèo, nhưng những con chữ của ông cuối cùng vẫn tìm được đường trở về.



