NẮM ĐẤT ĐI NGƯỢC CHIỀU NHỮNG CHUYẾN TÀU
Một nắm đất được gói trong chiếc khăn tay đã theo tàu 41 từ Vũng Rô ra miền Bắc. Đằng sau kỷ vật ấy là ba chuyến vận chuyển bí mật, một lần phải giấu tàu sát vách núi và cuộc trở về quê hương không có thời gian thăm nhà của Hồ Đắc Thạnh. Từ lời kể của người thuyền trưởng và người dân quân trao quà, câu chuyện mở ra một góc nhìn gần gũi về những người giữ đường tiếp viện trên biển.
Nắm đất Vũng Rô được gói trong một chiếc khăn tay. Giữa những chuyến tàu chở vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam, món quà nhỏ ấy đi theo chiều ngược lại. Người nhận là thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh; người trao là nữ dân quân Nguyễn Thị Tản. Không phải chiến lợi phẩm, cũng chẳng phải một vật quý hiếm, nắm đất được giữ lại qua chiến tranh, rồi trở thành hiện vật của Bảo tàng Hải quân.
Muốn hiểu vì sao người lính biển nâng niu từng ấy đất, phải trở về những ngày cuối năm 1964, khi một con tàu tìm đường vào Vũng Rô. Phía sau khoang hàng là nhu cầu vũ khí cấp bách của chiến trường Khu 5. Phía trước là một bến mới, nơi mọi tính toán đều phải được chứng thực bằng sinh mạng người đi biển và những người đón tàu.
Hồ Đắc Thạnh quê Tuy Hòa, lớn lên trong một gia đình làm nghề biển. Nhận nhiệm vụ đưa tàu 41 vào Phú Yên, ông được trở lại vùng đất thân thuộc trong một hoàn cảnh khác hẳn ngày ra đi. Trên con đường về ấy, niềm riêng phải nằm sau sự an toàn của hàng hóa, thủy thủ và tuyến vận chuyển bí mật.
Vũng Rô có vùng nước sâu, thuận lợi cho tàu ra vào. Nhưng bến nằm gần quốc lộ và đường sắt, giữa khu vực đối phương kiểm soát. Cái thuận của địa hình cũng kèm theo hiểm nguy: một sai sót khi tiếp cận, một dấu vết ngụy trang không kín đều có thể làm lộ con tàu và cả cơ sở trên bờ.
Ban chỉ huy nghiên cứu hải đồ, tính thủy triều, tìm cách tránh radar. Tàu mang theo 63 tấn vũ khí. Trong hải trình, họ phải đối phó với thời tiết và sự theo dõi của máy bay, tàu chiến. Đường đến quê hương vì thế không chỉ được đo bằng khoảng cách; nó còn được đo bằng khả năng giữ kín nhiệm vụ qua mỗi lần bị áp sát.
Ngày 28 tháng 11 năm 1964, tàu vào Vũng Rô. Người tiếp nhận ở bến là Trần Suyền, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. Theo lời ông Thạnh kể lại, hai người vốn biết nhau từ thuở nhỏ, nay gặp giữa một cuộc giao nhận đặc biệt. Cuộc trở về quê hương có một cái ôm xúc động, nhưng không có thời gian cho một cuộc thăm nhà.
Khó khăn xuất hiện ngay khi thuyền trưởng báo khối lượng hàng. Lực lượng ở bến từng hình dung một chiếc tàu nhỏ chỉ chở vài tấn. Bây giờ, trước họ là 63 tấn vũ khí phải chuyển lên bờ. Đêm không đủ dài để bốc dỡ hết; trời sáng, thân tàu sẽ thành mục tiêu dễ bị phát hiện giữa vịnh.
Hồ Đắc Thạnh cùng cấp ủy quyết định giữ tàu lại, ngụy trang sát núi. Lưới được giăng từ triền núi xuống; cành lá phủ lên, nối hình dáng con tàu với địa hình. Những kinh nghiệm cập tàu vào vách đá được đưa vào một quyết định hệ trọng: làm cho khối sắt chở vũ khí hòa vào đường nét của bờ núi.
Khoảnh khắc ấy cho thấy một mặt khác của lòng dũng cảm. Người chỉ huy phải chấp nhận ở lại nơi nguy hiểm, đồng thời tìm cách giảm hiểm nguy bằng hiểu biết nghề nghiệp. Sự bình tĩnh của ông gắn với công sức thủy thủ, bộ đội và dân công trên bờ. Con tàu được che giấu bởi bàn tay của cả hai phía bến và thuyền.
Đêm tiếp theo, việc bốc dỡ được tiếp tục. Đến khoảng ba giờ sáng, toàn bộ hàng đã bàn giao. Tàu rời bến trước khi trời sáng. Với những người vừa hoàn thành nhiệm vụ, 63 tấn vũ khí không còn nằm trong khoang; với lực lượng ở lại, chúng trở thành phương tiện chiến đấu. Một tuyến tiếp nhận mới đã được mở bằng sự phối hợp cụ thể ấy.
Cuối tháng 12, tàu 41 trở lại. Ngoài vũ khí và cán bộ tăng cường, chuyến này còn mang ba tấn gạo cho đơn vị bến đang thiếu lương thực. Chi tiết ấy giữ câu chuyện ở gần đời sống: người đón hàng cũng cần ăn để đủ sức bốc dỡ, canh gác, bảo vệ con đường vừa mở. Hậu phương gửi vào cả phương tiện chiến đấu lẫn sự nâng đỡ thiết thực.
Chuyến thứ ba đưa ông Thạnh về Vũng Rô dịp Tết Ất Tỵ 1965. Thủy thủ chuẩn bị bánh và một cành đào Nhật Tân. Giữa nhiệm vụ bí mật, những thức quà ngày Tết nối hai miền bằng một cảm giác gia đình. Cũng trong dịp ấy, Nguyễn Thị Tản trao nắm đất quê hương. Bà kể rằng bến quá khó khăn, chẳng có món quà đáng giá nào dành tặng những người đi biển.
Chiếc khăn có thêu đôi chim hòa bình. Trên một chuyến tàu chở vũ khí, hình thêu ấy đặt cạnh nhau hai điều tưởng cách xa: phương tiện để tiếp tục chiến đấu và ước vọng được sống yên lành. Người đời sau có thể đọc câu chuyện chiến tranh từ chính sự gần gũi ấy.
Đất được gói trong chiếc khăn tay rồi theo tàu ra Bắc. Nhiều năm sau, khi những người trong cuộc kể lại, món quà vẫn còn. Những chuyến hàng đã rời khoang, người lính đã già, còn nắm đất ở lại trong bảo tàng: một phần quê hương từng được người ở bến gửi vào tay người sắp vượt biển.



