Nam Phương Hoàng hậu
Lê Khánh Ngọc
Nam Phương Hoàng hậu (chữ Hán: 南芳皇后; 14 tháng 11 năm 1913 – 15 tháng 9 năm 1963) là hoàng hậu của Hoàng đế Bảo Đại thuộc triều đại nhà Nguyễn, đồng thời là hoàng hậu cuối cùng của chế độ quân chủ trong lịch sử Việt Nam. Việc được tấn phong hoàng hậu sau ngày cưới khiến cho bà trở thành một trong hai vị hoàng hậu nhà Nguyễn mang tước vị Hoàng hậu (皇后) ngay khi còn sống (bà khác là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu – chính thất của Hoàng đế Gia Long). Bà cũng là hoàng hậu duy nhất theo đạo Công giáo trong lịch sử Việt Nam. Bà đã có công đề xướng việc thành lập và mở các trường học thuộc Dòng Đức Bà (Congrégation de Notre-Dame) tại Việt Nam vào năm 1935. Với việc Bảo Đại thoái vị hoàng đế năm 1945 và trở thành một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nam Phương cũng mất đi tước vị hoàng hậu. Dù vậy, những người mộ mến và tôn kính bà vẫn gọi là Nam Phương hoàng hậu.
Tiểu sử
Theo sách Souverains et notabilites d'Indochine do chính quyền Đông Dương soạn[1] và sách Nguyễn Phúc tộc thế phả do Hội đồng Trị sự Nguyễn Phúc tộc biên soạn thì Nam Phương hoàng hậu sinh vào ngày 17 tháng 10 năm Giáp Dần. Cũng theo hai sách này thì ngày tháng năm Tây lịch đối ứng với ngày tháng năm nông lịch nêu trên là ngày 4 tháng 12 năm 1914.[2] Trên mộ của Nam Phương hoàng hậu ở Pháp, ngày sinh của bà được khắc là ngày 14 tháng 11 năm 1913.[3] Theo nhà nghiên cứu François Joyaux, ngày sinh thực của bà là 14 tháng 11 năm 1913, nhưng bị đổi lại trong các văn bản chính thức vì "không thuận lợi đối với các chiêm tinh gia của triều đình".[4] Như vậy ngày sinh thực của bà theo lịch ta là ngày 17 tháng 10 năm Quý Sửu, nhưng triều đình đã cho tuổi của hoàng hậu trẻ đi đúng một năm.[4]
Nam Phương Hoàng hậu nhũ danh là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Hào sinh tại số 1, đường Rousseau, Sài Gòn,[5] cha là Pierre Nguyễn Hữu Hào và mẹ là Marie Lê Thị Bình.[6] Ông Pierre Hào sinh tại làng Tân Hoà, tỉnh Chợ Lớn, trong một gia đình Công giáo nghèo gốc xứ Gò Công – Trao Trảo, tỉnh Biên Hoà (nay thuộc phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng nhiều tài liệu nhầm lẫn thành vùng đất Gò Công thuộc Tiền Giang (nay là Đồng Tháp).[5] Bà Marie Bình là con gái đại phú hộ Lê Phát Đạt (Huyện Sĩ), người đã tuyển dụng ông Hào và sau này giao cho việc quản lý toàn bộ tài sản.[5] Vợ chồng ông Hào chỉ có hai con gái. Con gái lớn là Marie-Agnès Nguyễn Hữu Hào sinh năm 1903; con gái thứ là Jeanne Mariette Nguyễn Hữu Hào, sau đó ghi trong sổ rửa tội là Jeanne Mariette Nguyễn Thị Lan.[5]
Năm 1928, khi 25 tuổi, người chị Agnès kết hôn với nam tước Pierre Jules François Didelot[7] (người này sinh ngày 7 tháng 8 năm 1898 tại Saint-Rémy en Bouzemont, 51 Marne, Grand Est, Pháp).[8] Hai người có con gái đầu là Marie-Agnes Elisabeth Didelot sinh năm 1930.[9] Nam tước Pierre Didelot từng là đại úy (capitaine) Pháo binh trong Quân đội Pháp và giám đốc thông tấn xã Havas ở Hà Nội. Vào thập niên 1930 gia đình sống ở số 177, Rue Paul Blanchy/về sau chuyển thành đường Hai Bà Trưng, thành phố Gò Công (con đường nay nằm phía trước cổng chợ cũ Gò Công) nhưng rồi gia đình chuyển ra số 72, đường Boulevard Carnot (đường Phan Đình Phùng), Hà Nội. Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Nam tước Didelot, bấy giờ thăng là đại tá được vua Bảo Đại bổ nhiệm làm Khâm mạng Hoàng triều Cương thổ.



