Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NẮM THẮT LƯNG ĐỊCH MÀ ĐÁNH

Ngay sau Tết, tiểu đoàn nhận lệnh từ Bộ Tư lệnh mặt trận Mặt trận Tây Nguyên B3 tổ chức phục kích một đơn vị tuần tiễu của Sư đoàn 4 Bộ binh Hoa Kỳ gần biên giới Việt Nam – Campuchia. Trong địa hình đồi đá và rừng thưa, hai đại đội bộ binh của ta bí mật tiếp cận, bất ngờ chặn đầu đội hình Mỹ và đánh giáp lá cà ở cự ly rất gần. Trận chiến diễn ra ác liệt khi pháo binh và không quân Mỹ yểm trợ dữ dội, nhưng các chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ, “nắm thắt lưng địch mà đánh”. Kết thúc trận đánh, quân

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Suốt đêm giao thừa ba chúng tôi không chợp mắt, nằm thủ thỉ kể nhau nghe mọi thứ chuyện tâm tình cho đến sáng. 8 giờ sương vẫn rơi ướt đẫm cây rừng. Tôi quàng tấm ni lông che mưa cùng đồng chí chính trị viên lần lượt đi xông đất các đại đội và phân đội trực thuộc. Chúng tôi hài lòng vì lán trại nào cũng tươm tất sạch sẽ quang đãng. Anh em chịu khó lùng tìm các loại hoa rừng cùng tre nứa, lá đùng đình kết dựng nên những cổng chào xinh xinh. Không ồn ào ầm ĩ nhưng chẳng kém vui nhộn. Chỗ này từng nhóm bu quanh bàn cờ tướng, chỗ kia chơi bài tú lơ khơ hay tiến lên. Kẻ thua phải đưa gối cho người thắng chọi. Thắng hay thua đều thiệt, kẻ đau gối người ê tay. Từng toán kéo co, đá lon, bịt mắt bắt dê... Mọi thứ trò chơi thời học sinh được đem ra thi thố.

Nhóm khác ngồi bó gối chuyền tay nhau nhâm nhi chén trà, luân phiên rít vài hơi thuốc gật gù kể chuyện Tết quê nhà. Đồng chí chính trị viên vẻ đắc ý luôn gục gặt đầu cười mỉm. Hỏi ra mới biết đi một tua khắp nơi anh chưa phát hiện chiến sĩ nào trùm chăn nằm dài.

Đây là điểm trọng tâm của nghị quyết Đảng ủy trong lãnh đạo đón Tết. Đừng để cái buồn lấn sân, phải tạo niềm vui xua đi mọi nỗi nhớ... Tiếp tục phòng và chống bệnh sốt rét nên tạm thời bị chặn đứng, cả tiểu đoàn thời điểm này hầu như không còn ai sốt. Cả tôi cũng thế, thể trạng được cải thiện khá hơn nhiều.

Vừa nhác thấy bóng, anh em đại đội trợ chiến uà ra lôi tuột tôi vào lán chỉ huy. “Mỗi tiểu đội dành phần các thủ trưởng một chiếc kẹo”. Họ bắt tôi nhai kẹo uống trà, xong phải thổi vài bài kèn mừng ngày đầu năm. Tôi góp vui với anh em qua chiếc harmonica bằng mấy ca khúc quen thuộc: Xuân và tuổi trẻ, Trống cơm...

12 giờ trưa mới thoát được vòng tay anh em ra về. Cậu Văn đã bày biện các món ăn tự tay chế biến khá ngon.

Vừa ngã lưng được mươi phút, tiếng chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tiếng trung đoàn trưởng mời tôi và chính trị viên đúng 14 giờ có mặt tại đoàn bộ bàn việc. Ý định đánh một giấc không thành. Phải đi ngay mới kịp.

Hơn một giờ vạch lá chui rừng mò theo đường dây điện thoại, chúng tôi vào lán dành riêng cho trung đoàn trưởng và chính ủy. Vừa chào hỏi xong, đồng chí công vụ mang vào hai bát miến gà nấu với nấm mèo khô bốc khói thơm lừng.

Chúng tôi vào cuộc không khách sáo. Chiếc máy thu thanh bán dẫn treo nơi chạc cây phát bản đồng ca bài nhạc phổ thơ chúc Tết của Bác.

Trung đoàn trưởng trải tấm bản đồ địa hình ghi bằng bút chì đỏ vị trí đóng quân của tiểu đoàn tôi. Chếch về hướng Bắc tây bắc khoảng 10 ky lô mét gần sát biên giới Việt Nam - Campuchia có một khoanh màu xanh dương. Ông cho biết đó là chốt dã chiến của một đơn vị thuộc sư đoàn 4 bộ binh Mỹ đóng cách đây gần một tháng. Nghe đến sư đoàn 4 tôi hít một hơn dài lẩm bẩm: “Chà, lại là thằng này. Bị sứt đầu mẻ trán nhiều vố chưa tởn sao con?” Kể ra chúng tôi đụng độ lớn nhỏ bọn này gần chục trận. Giờ sắp chạm mặt với đối tượng tác chiến quen thuộc tôi thấy thinh thích.

Trung đoàn nhắc tôi chú ý lệnh của Bộ Tư lệnh B3 phải đánh bọn Mỹ nơi đây một trận nên thân. Ông giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn tôi. Do địa hình nhiều đồi đá mấp mô, cây rừng che phủ không phải sử dụng nhiều lực lượng. Chỉ cần 2 đại đội bộ binh và một bộ phận thông tin trinh sát là đủ. Chính trị viên phó Sơn đi cùng tôi. Chính trị viên, tham mưu trưởng và đơn vị còn lại ở tại căn cứ sẵn sàng tiếp ứng khi có lệnh. Trận đánh này không tấn công vào chốt mà phục đánh bọn tuần tiểu sưu sách lùng sục nóng ra ngoài.

Để bảo đảm yếu tố bất ngờ phải triệt để giữ bí mật. 19 giờ đêm mai mùng hai Tết, bộ đội hành quân đến vị trí tập kết. Không được đi ban ngày để tránh biệt kích trinh sát địch

Hành quân đêm trong rừng già, tàn cây che khuất màn trời không trông thấy một vì sao. Đã tối càng kín như bưng. Địa hình không quen thuộc nên đi rất khó khăn tốc độ chậm dễ lạc. Được rèn luyện nên anh em có kinh nghiệm biết cách khắc phục. Mỗi người luôn luôn thủ sẵn một sợi dây dài. Gặp trường hợp này người đi sau cột vào đai ba lô người đi trước để dắt nhau đi. Nếu ban ngày đoạn đường đi chỉ mất 1 giờ 30 phút, ban đêm phải mất hơn 4 giờ.

Sắp bước sang mùng ba Tết, đơn vị vừa đến nơi ém quân trời bỗng đổ mưa. Giá bị trời tưới nước giữa đường càng lận đận vất vả hơn nhiều. Nhờ cơn mưa đầu năm nên đất trên đỉnh đồi cao bớt phần khô cứng, anh em đào công sự đỡ cực lại nhanh.

Lực lượng tôi mang theo có hai đại đội 1 và 2. Mỗi đại đội có 80 tay súng, trang bị vũ khí đầy đủ, một tiểu đội trinh sát, tổ thông tin vận động.

Từ chốt dã chiến Mỹ bắn cầm canh bằng cối nặng 106,7 mi li mét. Từ 5 đến 10 phút chúng phóng 1 quả. Thứ này uy lực không kém loại cối 120 mi li mét của ta. Tiếng nổ quả đạn vang dội vào vách đá rừng cây trầm rền kéo dài nghe tưởng chừng có hai ba quả khác liền nhau. Nghe tiếng nổ đầu nòng tôi ước tính cụm chốt Mỹ cách tôi chưa tới hai nghìn mét đường thẳng. Chúng bắn hú họa rải khắp các cánh rừng chủ yếu ven tuyến biên giới rồi chuyển qua hướng Tây nam nhằm ngăn chặn lực lượng ta từ bên kia thâm nhập tiếp cận chúng. Chúng tôi ở bên đất ta từ hướng Đông nam lên nên địch ít chú tâm đến.

4 giờ sáng, công sự chiến đấu tại chỗ, hầm ngủ, hầm chông phi pháo, cơm sáng, vắt cơm cho buổi trưa hoàn tất. Tôi đợi trung đoàn trưởng đến.

6 giờ mùng ba Tết tiến hành trinh sát địch và địa hình. Đêm qua căn cứ tiếng nổ đầu nòng của cối địch, tôi xác định hướng, vị trí và ước lượng cự ly đến cụm dã chiến địch. Đoàn đi trinh sát có trung đoàn trưởng, hai cán bộ tác chiến và trinh sát, tôi cùng 2 đại đội trưởng 1 và 2... mọi người trang bị AK, ngụy trang bằng những tấm vải dù loang lổ hòa hợp màu sắc cây rừng. Chúng tôi tận dụng những gốc cây to, khối đá tảng lớn dè dặt thận trọng chuyển dịch về hướng chốt địch. Vượt qua hai đồi đá rậm cây như hai quả núi nhỏ, xuôi xuống một thung lũng hẹp mới vào chân dốc quả đồi thứ ba, tôi phát hiện có dấu giầy dẫm lên lá khô hình thành một lối đi lờ mờ sau cơn mưa đêm trước. Chắc chắn bọn Mỹ vừa đi qua trước khi chúng tôi đến. Kín đáo lần theo dấu từ đông sang tây quả đồi, quan sát kỹ địa vật chung quanh, chúng tôi quay về quả đồi thứ nhất lựa chỗ nghỉ ngơi bàn thảo.

Trả lời câu hỏi của trung đoàn trưởng, một phác thảo kế hoạch tác chiến hình thành sơ bộ trong óc tôi. Tôi trình bày được trung đoàn trưởng và mọi người tán đồng. Nhưng đồng chí không chuẩn y thời gian tác chiến. Tôi đề nghị cần có ngày giờ trinh sát theo dõi nắm quy luật hoạt động địch ít ra phải 2 ngày mới thực hiện phương án. Trung đoàn trưởng cho biết quyết tâm Bộ Tư lệnh sư đoàn và B3 phải đánh trong ngày mùng bốn Tết. Mỹ đi một tiểu đội, phải tiêu diệt gọn tiểu đội đó. Chúng đi một trung tiêu diệt một tiểu. Chúng đi một đại đội, tiêu diệt hai tiểu đến một trung. Tóm lại nếu Mỹ ra khỏi công sự phải đánh ngay trong ngày mai. Chỉ tiêu từ 1 đến 2 tiểu đội địch tức từ 10 đến 20 tên giặc Mỹ.

Tôi nhớ lần Mỹ đổ quân rồi xộc vào căn cứ tiểu đoàn, yêu cầu trên chỉ cần bắn vào bãi đổ quân của chúng từ 6 đến 8 quả cối. Không ra chỉ tiêu cho tôi diệt địch. Tôi không đánh bằng cối mà vét 20 chiến sĩ đang trong cơn sốt, dùng súng bộ binh chặn đánh bất ngờ khi chúng luồn rừng định bí mật tiếp cận tập kích vào một cơ quan nào đó của ta ở tuyến biên giới. Kết quả theo tin kỹ thuật của Bộ Tham mưu B3 ta gây thiệt hại nặng 2 đại đội A và B của sư đoàn 4 bộ binh Mỹ, làm chết và bị thương trên 80 tên.

Trận đánh ngày mai được giao chỉ tiêu cụ thể. Phục tùng mệnh lệnh tôi hạ quyết tâm. Trung đoàn trưởng vui vẻ bắt tay chúc tôi thành công. Ông cởi chiếc bi đông kiểu Trung Quốc ra tợp một ngụm rượu, ông uống rượu như tôi uống nước chẳng cần mồi, thức nhắm gì. Không hiểu nơi rừng hoang núi thẳm mấy tay hậu cần lần đâu ra thứ rượu đế cho ông “giải khát”. Ông lớn hơn tôi 8 tuổi. Tuy uống rượu như uống nước, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ông say hay lẩm cẩm do tác động của ma men.

Ông cùng tổ cán bộ về sở chỉ huy trung đoàn. Chúng tôi còn lại tiếp tục bàn thảo, dự kiến mọi tình huống có thể xảy ra nhiệm vụ cụ thể từng đại đội, vị trí chỉ huy của tôi v.v...
Sáng mùng 4 Tết, trời mờ mờ chưa nhìn rõ mặt người, sương đêm ướt đẫm cây rừng, theo kế hoạch và hợp đồng, đại đội 1 xuất kích trước 10 phút. Tôi cùng tiểu đội trinh sát, tổ thông tin vận động dẫn đầu đại đội 2 nối tiếp theo sau.

Khi tôi vượt qua quả đồi số 1 nghe tiếng súng nơi vị trí đại đội 1 nổ ran liên tu bất tận. Tiếng nổ không còn phân biệt đâu là tiếng RPD hoặc AK, B40 của ta với các loại vũ khí bộ binh của quân Mỹ. Chúng hòa quyện vào nhau kéo dài rền vang.

Không thể chậm trễ, chúng tôi lao lên chiếm lĩnh đồi số 2. Cán bộ đại đội trung đội bên cạnh tôi. Tôi quan sát diễn biến trận đánh đang diễn ra. Đúng như dự kiến, bọn Mỹ đi theo con đường chúng tôi phát hiện hôm qua. Có điều chúng đi sớm một chút. Đại đội 1 đã đến kịp đúng lúc chặn đầu chúng lại. Bọn Mỹ tưởng lực lượng ta không nhiều, chúng xô lên quyết đánh bứt mở đường rút chạy ven phía tây chân dốc đồi số 3 về căn cứ. Tình huống này trong phương án tác chiến chúng tôi đã dự kiến. Xen trong tiếng súng là tiếng kêu la của lính Mỹ. Đại đội 1 chiến đấu rất ngoan cường. Mỗi chiến sĩ chiếm từng gốc cây mô đá ghìm đầu bọn Mỹ tại chỗ.

Tôi đứng trên đồi cao nhìn xuống, từ chỗ tôi đến nơi giao tranh chưa tới 100 mét. Tôi trông rõ hành động của chiến sĩ ta và bọn giặc Mỹ. Hai bên đan xen nhau. Chiến sĩ ta vừa nổ súng vừa lợi dụng địa vật có lợi vận động tiếp cận chúng. Cự ly ta và địch xa nhất cũng chỉ mười, mười lăm mét. Anh em nhận thức và qua kinh nghiệm “nắm thắt lưng địch mà đánh” vừa bắn dễ trúng đích vừa vô hiệu hóa hỏa lực của phi pháo vốn là thế mạnh của Mỹ. Chỗ này rừng không rậm toàn những cây to, bên dưới đá tảng lổn ngổn trên mặt đất. Rừng không có dây leo rất ít cây con nên quan sát rất rõ. Những luồng đạn hai bên đan chéo nhau chạm vào đá tóe lửa, phạt đứt các nhánh cây lả tả rơi chụp xuống đất.

Trận đánh diễn ra chưa tới 3 phút, pháo binh Mỹ từ các căn cứ lớn bắn dồn dập yểm trợ bộ binh. Mật độ đạn pháo rơi khá dày trùm lên quả đồi số 1 chúng tôi vừa vượt qua và chuyển dần đến đồi số 2 nơi chúng tôi triển khai đội hình đại đội 2 thành tuyến tản binh. Không quân địch đồng thời xuất kích. Tốp máy bay phản lực dội bom xuống các quả đồi từ hướng biên giới đến. Máy bay cường kích cánh quạt AD6 trực tiếp yểm trợ ngay tại trận. Chúng rải bom bi dọc theo thung lũng hẹp trước mặt tôi. Tôi đoán ý định chúng ngăn chặn không cho lực lượng ta vượt qua thung lũng chiếm đồi số 3 đồng thời bảo vệ phía sau đội hình quân chúng. Kể ra tên chỉ huy ở căn cứ phía sau tổ chức hỏa lực trên không và pháo mặt đất để yểm trợ không đến nỗi tồi.Người ta gọi đó là điều may mắn. Riêng tôi không tin chuyện rủi may mặc dù thỉnh thoảng tôi cũng thốt ra “may quá ”. Nhưng không hiểu sao chúng tôi bị một quả đạn pháo nổ chếch về bên trái cách 3 bước mà chẳng ai hề hấn gì. Đất cát tung tóe. Sức mạnh quả đạn khi nổ hất ngã tôi và mấy anh em đứng cạnh. Mảnh đạn chỉ xẹt làm thủng mấy lỗ khá to vào hai ống quần không chạm vào da thịt làm tôi nhìn thấy cũng hú vía.

Đại đội 2 đã hình thành nhiều mũi, mỗi tiểu đội một mũi thành tuyến ngang. Tôi ra lệnh khi vòng lượn máy bay vút qua, bom bi vừa bùng nổ phải lao thật nhanh vượt qua thung lũng chiếm đồi số 3 trước khi chiếc máy bay thứ hai xà xuống. Ai chậm chân sẽ không thoát bom bi của nó.

Chiếm đồi số 3 theo kế hoạch để chặn không cho Mỹ vượt đồi chạy về căn cứ, và tận dụng lợi thế từ trên cao đánh tạt xuống sườn đội hình địch ép chúng dồn vào cuối thung lũng để tiêu diệt chúng.

Hành động bộ đội đúng như mệnh lệnh đã ban ra. Khi phát lệnh tiến, tôi lao nhanh. Hai phút sau chúng tôi đã ở sườn đồi số 3 tránh được loạt bom bi vừa rải sau lưng cách chúng tôi 50 mét. Đồng chí đại đội trưởng chạy bên trái tôi trúng đạn vào đùi. Tôi cho đưa vào hóc đá gọi y sĩ đến băng bó, chỉ định đại đội phó thay.

Vị trí chỉ huy của tôi sau một thân cây cổ thụ rất to phải gần 3 vòng tay người ôm giáp ở lưng chừng dốc hơi chếch về phía tây của đồi số 3. Dốc khá đứng khoảng 45 độ. Trên cao bằng tòa nhà hai tầng nhìn xuống ven chân đồi nơi huyết chiến điểm của trận đánh, cách tôi nơi xa 50 - 60 mét, gần chỉ vài chục mét. Sau lưng tôi còn nhiều thân cây cao lớn che chắn. Tiểu đội trinh sát 8 đồng chí tổ liên lạc có 3 cùng Văn công vụ luôn bám sát theo tôi. Chúng tôi tất cả 14 người tại quan sát sở tiểu đoàn, có 12 súng AK, 1 B40. Chỉ riêng tôi sử dụng súng ngắn K54. Lúc lâm trận súng ngắn chẳng mấy tích sự. Lực lượng này sẽ là đội dự bị của tôi.

Cuộc săn đuổi của các chiến sĩ ta với đám đông lính Mỹ vẫn tiếp diễn. Thế trận đã trở thành cài răng lược. Anh em ta dồn số địch còn lại vào một chỗ. Bọn Mỹ tận dụng những hòn đá tảng tạo thành ổ đề kháng chống trả quyết liệt. Xác bọn chúng nằm rải rác khắp nơi rất dễ nhìn bởi bộ quân phục màu vàng mốc chân đi giây với chiếc nón sắt lăn lóc bên cạnh. Tôi phát hiện ven dốc phía tây số 3 bọn Mỹ tập trung số còn lại đánh thốc vào đây. Bốn thi thể chiến sĩ ta hy sinh sau mấy gốc cây tảng đá. Chỉ còn hai đồng chí trụ ở đấy với từng phát đạn một. Có lẽ đạn các đồng chí sắp hết nên không bắn liên thinh. Nếu không kịp thời chi viện lỗ thủng sẽ bị khoét to, bọn Mỹ còn lại sẽ chuồn hết từ chỗ này. Tôi lệnh cho đại đội 2 nhanh chóng đưa một tiểu đội đến bịt trám lỗ hổng. Tiếng đội trưởng trinh sát hét lên: “Cho chúng em xung trận làm nhiệm vụ này, điều lực lượng C2 đến không kịp”. Bất chấp tôi đồng ý hay không vừa dứt lời tiểu đội trinh sát lao ngay xuống dốc, vừa chạy vừa lia đạn vào bọn Mỹ buộc chúng phải co lại sau những phiến đá to bên dưới trước mắt tôi vài mươi sải chân. Tôi cố đếm số Mỹ còn lại không tới 20 tên. Đường cùng chúng ngoan cố liều lĩnh tổ chức ổ đề kháng cầm cự chờ viện binh. Lỗ hỗng được bịt kịp thời. Tôi quay lại định bảo liên lạc điều đến cho tôi một khẩu B40, nhưng không còn ai. Cả cậu Văn công vụ của tôi đã lao vào cuộc chiến đấu như tiểu đội trinh sát. Chỉ còn mình tôi đứng trơ đó với khẩu K54 trong tay. Tôi bắn hết cả băng đạn chẳng nhằm nhè gì. Những khối đá tảng to tướng làm vật chắn che chở cho bọn tàn quân Mỹ. Tôi tiếc lúc này giá có khẩu B40 hay vài trái lựu đạn tự tay tôi kết liễu ít ra vài ba thằng.

Tôi không trách anh em. Tôi chỉ thất vọng nếu như họ thấy giặc mà không dám xông lên tìm cách lánh né để bảo toàn mạng sống. Ở đây, lúc này họ không làm thế. Họ đang quần nhau với bọn Mỹ, anh hùng biết bao!

Tôi đã nhiều lần đề cập đến chuyện mỗi lần xung trận chồng lấn lên nhau, đan xen nhau. Ai cũng hiểu điều này. Thế mà thấy giặc Mỹ lờn vờn trước mắt, họ chưa được nổ súng, chưa được xông vào quật ngã chúng, chưa phát tiết được lòng căm thù, họ thấy ngứa ngáy tay chân, thấp thỏm bồn chồn. Dĩ nhiên họ thừa biết đã lao vào lửa không cháy da cũng xém tóc. Mặc họ không đắn đo, họ quyết đổi một mạng sống của họ phải trả giá bằng năm, bảy tên Mỹ phơi xác. Họ không nghĩ đến chuyện “một là xanh cỏ hai được đỏ ngực”. Họ không nghĩ đến chuyện được huân chương. Điều ấy chẳng nghĩa lý gì lúc này. Họ không màng đến chuyện nếu được tôn vinh là những anh hùng. Hoặc ai đó bằng những thủ đoạn dối trá bỉ ổi và hèn hạ dìm họ xuống, cướp đoạt công lao họ, họ chẳng thiết... Lúc này họ chỉ thấy những tên giặc Mỹ khốn kiếp từ bên kia đại dương ngang nhiên sang xâm lược Tổ quốc họ, dìm Đất nước và nhân dân họ trong máu lửa. Họ chiến đấu do lòng yêu nước và chí căm thù giặc sâu sắc.

Tôi rất tự hào về họ, những chiến sĩ yêu quý và vinh quang của nhân dân Việt Nam, bạn chiến đấu chết sống gần gũi bên tôi.

Từ hướng đại đội 2 một bóng người lao về hướng tôi. Tôi quá ngạc nhiên khi nhận ra đó là Gia.

- Cậu dưới đất chui lên đây à?

Gia vừa thở vừa nói:

- Thấy thủ trưởng một mình đứng đây em chạy đến.

- Nhưng chuyến đi đánh trận này có tên cậu đâu?

- Vâng đúng thế, nhưng em lén bám theo đại đội 2 để được dịp choảng nhau với bọn mũi lõ.

Té ra thế! Người ta lén cha lén mẹ trốn đi cặp bồ cặp bịch, lén ăn vụng, lén đủ thứ lén. Nói đến lén là thể hiện không được quang minh chính trực... Đàng này anh ta lén để được đi đánh bọn Mỹ. Lao vào lửa đạn đâu phải múa võ trên sân khấu, vốn một đại đội trưởng từng chiến đấu bên tôi, anh không lạ gì cái chân lý giản đơn “Anh không giết được nó, nó sẽ giết anh”. Gia quê Thanh Hóa. Cách đây hơn tháng khi chỉ huy đại đội 3 trong một trận đánh anh bị thương phải vào viện điều trị. Chúng tôi đề bạt đại đội phó thay anh. Vết thương chưa lành hẳn anh đòi xuất viện về đơn vị. Tôi giữ anh lại tiểu đoàn bộ tạm thời bố trí làm trợ lý tham mưu. Đợi sức khỏe anh hoàn toàn bình phục sẽ đề nghị trên bổ nhiệm làm tham mưu trưởng tiểu đoàn. Tham mưu trưởng hiện nay sẽ được cất nhắc làm tiểu đoàn phó. Chức danh này tiểu đoàn đang khuyết. Xuất kích trận này tôi không cho anh đi. Thế mà anh “lén”. Anh sai trong chấp hành mệnh lệnh, nhưng tinh thần chiến đấu của anh cũng như anh em trinh sát liên lạc đáng ngã mũ chào. Ai lại phiền trách những con người như thế. Một lần nữa tôi tự hào về anh!

Bọn Mỹ phát hiện ra tôi bên trên sau lưng chúng qua mấy loạt súng ngắn. Chúng đang tuyệt vọng phải chống cự trên ba mặt. Hy vọng cuối cùng cho lối thoát là mặt sau lưng nhưng đã bị án ngữ. Khi phát hiện hỏa lực đối phương mặt này chẳng ra gì, chúng như tìm được con đường sống, đó là hướng vị trí chỉ huy của tôi. Phát hiện điều này một mặt chúng bắn rát kềm chế ngăn chặn quân ta tiếp cận, mặt khác dồn hỏa lực bắn không tiếc đạn vào nơi tôi và Gia ẩn sau gốc cây lớn. Quân Mỹ khi hành quân xuất kích hay tuần tiểu thường mang đầy đạn trong những ba lô to lớn cồng kềnh. Cuộc chiến kéo gần cả tiếng đồng hồ, sử dụng đạn dược của chúng vẫn dài hơi. Ngược lại hỏa lực ta yếu dần. Anh em lúc này dè sẻn từng viên đạn một.

Gốc cây làm vật che đỡ cho tôi và Gia hứng chịu không biết bao nhiêu đầu đạn bọn Mỹ xuyên vào. Tôi cười nói với Gia: “Chấp cho nó bắn đến Tết sang năm cũng không xuyên thủng gốc cây này”. Từ đầu đến giờ tôi vẫn đứng. Gia trong tư thế quỳ. Cả hai chỉ có súng ngắn. Thỉnh thoảng nổ một phát khi thấy cái mũ sắt nào lấp ló sau các tảng đá. Bỗng Gia nắm lấy ống quần tôi hét lên: “nằm xuống thủ trưởng”. Theo phản xạ tự nhiên tôi thụp người ép sát vào gốc cây đồng lúc tiếng nổ chói tai phía sau lưng. Bụi khói phủ trùm lên người. Cành lá bị mảnh đạn chặt đứt tung rơi lả tả. Tiếng Gia hỏi tôi: “Thủ trưởng có sao không? . Tôi đáp: “không hề gì. Còn cậu”. Gia lấy ống tay áo lau qua mặt, đáp: “em chỉ sặc bụi”.

Tôi từng cười thầm bọn Mỹ ngu đần. Còn bây giờ tôi thấy mình đần độn không kém gì chúng. Tôi không nghĩ ra cái mà chúng vừa làm. Bọn Mỹ thấy không cách gì làm xuyên thủng gốc cây to lớn để triệt hạ chúng tôi. Còn một thằng Mỹ nào đó có chút thông minh nảy ra sáng kiến dùng súng phóng lựu M79 bắn vào những thân cây phía sau. Uy lực quả đạn nổ sẽ hất ngược lại gây sát thương sau lưng chúng tôi. Phát đạn vừa rồi lệch, trúng một thân cây hơi xa nên hai chúng tôi không hề gì. Chúng sẽ chỉnh đường ngắm, phát thứ hai chúng tôi khó thoát.

Tôi dụi mắt vì khói bụi bám đầy, liếc nhìn tìm một vị trí khác để di chuyển đến. Chậm mất. Một tiếng nổ như sét đánh đỉnh đầu. Tôi thấy mình sao nhẹ tênh. Lại có cảm giác thật dễ chịu. Cảnh vật chung quanh không gì thay đổi. Những khối đá xám xịt đen sì to lớn vẫn nằm đó im lìm. Những tàn cây cổ thụ cao vút che kín màn trời lắc lư xao động. Không còn tiếng súng tiếng bom. Không khí mát dịu trong lành chứ không sặc mùi khét của thuốc súng khói bom. Dưới chân dốc ven mép thung lũng dài mà hẹp không còn thấy những thây lính Mỹ bị bắn gục nằm rải rác với nhiều tư thế khác nhau... Nhưng tại sao thân thể tôi nhẹ bổng như người không có trọng lượng. Đất không còn sức hút mà như có một lực bí ẩn nâng tôi lên từ từ nhẹ nhàng. Tôi vẫn ở tư thế nằm mà chân tay không cử động. Mắt vẫn nhìn thấy mọi vật, tai nghe rõ tiếng vọng nhưng miệng không thể kêu thành tiếng. Thân thể tôi tách dần khỏi mặt đất được nâng lên cao ngang tầm một chạc cây. Trí óc tôi vẫn minh mẫn, nếu không làm sao tôi nhận biết được sự vật quanh mình. Tôi chợt nghĩ hay mình đã chết. Chết thật ư? Đã đến lúc rồi ư? Linh hồn mình đang bay đây mà. Bỗng tôi nghe văng vẳng mơ hồ xa lắm ai đó gọi. Tiếng gọi mỗi lúc một gần hơn. Tôi đã nghe rõ. Đúng, ai đó gọi tôi. Tôi không thể nằm im bất động thế này nên cố gồng mình hét to đáp lại: “Tôi đây”. Có nhiều tiếng reo đồng lúc: “Thủ trưởng tỉnh rồi, tỉnh lại rồi”.

Tôi chưa chết, chỉ bị hôn mê kéo dài mươi phút. Thân thể tôi dán chặt trên mặt đất đầy lá cây xanh bị mảnh đạn xé nát tơi tả.

Cuộc chiến kết thúc sau khi quả M79 của Mỹ nổ trùm lên người tôi và Gia. Cửa được mở. 14 tên Mỹ sống sót băng ngang sát cạnh tôi tháo chạy về căn cứ.

Đồng chí quân y sĩ vừa băng bó các vết thương cho tôi vừa kể lại chuyện. Anh núp sau một khối đá trên đỉnh đồi phía sau tôi. Anh thấy cụm khói phủ trùm lên hai chúng tôi, anh la hoảng định lao xuống chỗ tôi. Không dè thấy bọn Mỹ từ chân dốc chạy ngược lên. Anh nép mình đưa mắt đếm rõ từng tên một. Anh nói: “Em lo quá. Chúng chạy sát cạnh thủ trưởng, có thể chúng cho thủ trưởng và anh Gia đã chết, điều quan trọng với chúng là lo tháo thân, nếu không chúng xả một băng...” . Tôi cướp lời anh: “Thì mình đi chầu tiên tổ”.

Gia lúc này vẫn chưa tỉnh. Tôi đưa tay lắc mấy cái có tiếng rên khẻ. Thật mừng, anh chưa rời bỏ chúng tôi. Cũng như tôi anh bị nhiều mảnh M79 ghim vào thân thể, cắt mất một phần gót chân phải. Anh em trinh sát liên lạc có mặt đủ an toàn. Văn, Thóc cả hai miệng méo xệch muốn khóc lòng bức rứt bồn chồn khi thấy tôi bị thương. Giá như không quá hăng say tự động lao vào cuộc chiến, còn ở bên cạnh thủ trưởng không đến nỗi. Giá như trong tay tôi còn 14 tay súng có 1B40 lực lượng dự bị vốn chủ định của tôi thì toàn bộ số lính Mỹ không sót một tên trong danh sách được về với Chúa. Tôi an ủi biểu dương tinh thần chiến đấu quyết tâm diệt giặc để anh em an tâm.

Tựa người vào gốc cây, tôi đưa mắt quan sát toàn cảnh chiến trường. Rất nhiều xác lính Mỹ nằm rải rác dưới thung lũng, ven sườn đồi. Anh em ta đang khẩn trương cứu chữa, cáng thương ra khỏi trận địa làm tôi sực tỉnh. Chao ôi tôi là thằng đần độn, tại sao tôi không nghĩ đến chuyện này. Nguy mất. Tôi hét to mọị người phải nhanh chóng rời khỏi nơi này. Trinh sát liên lạc quay xuống ngay truyền lệnh cho phó chính trị viên tiểu đoàn ở phía sau tổ chức di tản ngay thương binh liệt sĩ. Tất cả rút ngay về vị trí ém quân sáng nay không chậm một phút. Tôi bật dậy nhưng đứng không vững khụy xuống. Mảnh đạn xuyên sâu vào đùi phải, một mảnh ghim phía sau lưng gần sát cột sống kể cả vết sau cổ làm cả người tôi tê dại. Anh em xông lại đỡ. Tôi thúc dục mọi người nhanh lên. Bọn Mỹ sẽ đến ném bom và cấp tập pháo vào khu vực đây ngay bây giờ. Toàn bộ xác lính Mỹ bỏ lại không lấy được chúng sẽ dùng phi pháo hủy diệt. Đừng để vạ lây. Y như rằng chúng tôi vừa di chuyển đến đỉnh đồi máy bay ập đến. Lợi dụng mấy khối đá to che chắn khá kín đáo, tôi cho dừng lại ẩn nấp và quan sát hành động chúng. Từ trận địa đến chỗ chúng tôi khoảng 150 mét. Chúng dùng toàn bom napan làm bốc cháy cả cụm rừng trước mắt. Khói đen dày đặc cuồn cuộn hòa lẫn những ngọn lửa đỏ sẫm như những chiếc lưỡi máu liếm phủ lên cả rừng cây. Gió từ những quả bom nổ rít ra ào ào. Bầu không khí đặc mùi khét lẹt của chất dầu đặc trộn lẫn cao su và phốt pho cùng mọi thứ hóa chất khác làm người ta muốn lộn mửa. Mấy mảnh bom cháy văng cách tôi không xa. Anh em xốc nách lôi tuột tôi xuống chân đồi phía đông. Đi cùng tôi có một y tá, Văn công vụ và hai trinh sát. Đồng chí y sĩ và số còn lại tôi cho quay về tiểu đoàn để phụ trợ cấp cứu thương binh, sẵn sàng cho cuộc chiến đấu tiếp.

Tôi được đưa đến điều trị tại trạm quân y K83 trực thuộc quân y Bộ Tư lệnh B3. Trong số thương binh trong trận đánh chỉ có tôi được đưa đến đây. Anh em khác có lẽ được chuyển về quân y trung đoàn và sư đoàn.

Mấy hôm sau anh em đến thăm tôi cho biết theo theo thông báo của Bộ Tư lệnh B3 và sư đoàn, trận này (tin kỹ thuật) bọn Mỹ bị tiêu diệt bỏ xác tại trận 66 tên chưa tính số chết trên hai chiếc trực thăng bị tổ cảnh giới bắn rơi. Mỹ buộc phải bỏ xác tại trận rất hiếm xảy ra dù chỉ một tên. Ở đây không chỉ một mà những 66 xác kể cả vũ khí. Chúng đã đốt thiêu bằng bom napan toàn bộ (chắc chắn cả những tên bị thương). Theo lời kể của anh em: ngày hôm sau một bộ phận quân ta đến kiểm tra lại chiến trường thu dọn vài liệt sĩ còn lại, xác bọn Mỹ tuy bị thiêu cháy nhưng nhiều tên hình hài vẫn còn.

Chuyện về hai chiếc trực thăng Mỹ bị bắn rơi đến lúc anh em kể tôi mới biết.

Trong lúc giao chiến diễn ra ác liệt, tại vị trí chỉ huy tôi nhận ra đại đội trưởng đại đội 1 đang lao đến cùng hai chiến sĩ để bịt lỗ hổng. Tôi gọi to báo anh biết có 13 tay súng của tiểu đội trinh sát liên lạc tăng cường cho anh. Hãy phái một tổ đến chiếm quả đồi phía bắc sau lưng anh để cảnh giới, đề phòng bọn Mỹ từ chốt men theo hướng này ra chi viện đồng bọn. Chú ý chúng đánh tập hậu. Tôi dứt tiếng vừa lúc các chiến sĩ trinh sát vận động đến. Một tổ ba người được phái đi. Đỉnh quả đồi cảnh giới khá phẳng rộng bằng hai sân bóng chuyền, trống trơn. Cây cối chung quanh thưa thớt rất tiện cho máy bay lên thẳng cất hạ cánh. Anh em chọn được vị trí ẩn nấp vừa lúc tiếng trực thăng từ chốt Mỹ phành phạch bay đến. Nó bay tầm thấp. Đến đỉnh đồi chiếc trực thăng dừng lại hạ độ cao. Ba anh em bàn nhau chúng có thể hạ cánh đổ quân chi viện hoặc chuyển thương binh, cùng có thể đón bọn phá vây chạy ra hướng này. Nó đem mạng đến đây dù lý do gì phải hạ bằng được. Baa khẩu AK chụm vào mục tiêu to đùng. Từ cánh quạt máy bay phát ra cơn bão nhỏ làm đổ rạp ngã nghiêng cây cỏ. Khẩu lệnh bắn phát ra. Ba khẩu AK đồng loạt siết cò. Chùm đạn bọc lấy chiếc trực thăng. Nó bay như giật cục, cất đầu cố lên cao. Được vài mươi mét như mất thăng bằng nó nghiêng nghiêng lảo đảo vòng qua bên kia đồi lật bụng lên trời, như một khối thép khổng lồ rơi xuống khe cách chỗ đánh nhau khoảng 700 mét kêu sầm một tiếng như núi lở.

Mọi người đang lao vào cuộc chiến trong tiếng bom đạn rền tai, không ai biết chuyện này.

Năm phút sau chiếc thứ hai bay đến. Nó lượn một vòng tới tầm cao hơn như tìm kiếm đồng bọn mới ăn đòn, vừa quan sát xác định mục tiêu. Nó chúc đầu lao xuống phóng một loạt mấy quả róc két lên đỉnh đồi cũng vừa lúc chùm đạn AK vút lên. Không giống như chiếc trước khi bị đạn cố ngất đầu. Chiếc này đang từ cao chúi xuống phóng róc két trúng đạn theo đà nó lao thẳng xuống cụm rừng về hướng chốt Mỹ phát ra một tiếng nổ lớn.

Bị diệt bỏ xác tại chỗ 66 tên Mỹ cộng 14 tên chạy thoát. Vị chi cuộc tuần tra sưu sách buổi sáng hôm ấy Mỹ có 80 tên (một đại đội thiếu hoặc chẵn hai trung đội). Tính cả số tử vong trên hai chiếc máy bay (không nắm được) số Mỹ bị diệt trong trận này còn cao hơn.

Vài hôm sau xảy ra trận đánh, chốt dã chiến Mỹ rút bỏ tháo chạy.

*
* *
Sau đợt điều trị hơn một tháng, các vết thương vừa kín miệng kéo da non tôi xin ra viện. Thời gian nằm ở đây tôi được chăm sóc chu đáo tận tình. Đồng chí Cao Văn Khánh Tổng tham mưu phó trên đường từ nam ra bắc biết tin tiểu đoàn trưởng chỉ huy trận đánh hôm mùng bốn Tết âm lịch tại đồi đá bị thương đang điều trị ở viện K83, đã gởi tặng tôi mấy bao thuốc lá Ara hiệu con Két với lời thăm, chúc tôi chóng bình phục. Ba vết thương trong người tôi được một phó tiến sĩ bác sĩ vừa từ Liên Xô về mổ lấy các mảnh đạn. Anh trong đoàn cán bộ của cục quân y Tổng cục hậu cần vào kiểm tra công tác phòng chữa bệnh, chữa thương ở chiến trường B3. Khi biết tôi là em rể của một bạn đồng học cấp ba và lớp y sĩ ở Nghệ An, anh dành lấy việc mổ thương cho tôi. Thời kháng chiến mọi cái đều thiếu thốn. Không có phương tiện chiếu rọi X quang hoặc chụp phim để xác định vị trí chính xác các mảnh đạn để lấy ra cho hết. Đến nay có hai vết thương vẫn lưu giữ mảnh kim loại trong người. Mấy bác sĩ sau khi mổ nói vui với tôi: “Rủi nhưng lại gặp may Nỹ ạ. Rủi ở chỗ cả ba vết thương đều đúng chỗ hiểm. May là trúng chỗ hiểm nhưng không gây nguy hiểm. Một vết chỉ cách gân cổ một đến hai ly, một vết ngay thắt lưng cách cột sống nửa hạt gạo. Vết đùi tuy trúng phần mềm phá to nhưng sát cạnh động mạch. Những chỗ này thiếu phương tiện không dám banh rộng gắp cho hết mảnh, chạm phải dây thần kinh rất nguy. Cậu đành chung sống hòa bình với nó. Không nguy hiểm nhưng chả dễ chịu đâu”. Các anh lại đùa: “Ba vết thương như ba tấm huân chương gắn vĩnh viễn lên người tôi”. Thật vậy khi trái gió trở trời những mảnh đạn quái quỉ này hành hạ tôi vô cùng đau nhức. Tuổi còn trẻ vài năm nó “ngọ nguậy” một lần đủ để làm gần như tê liệt một cánh tay hoặc chân. Thật khổ hết tay lại chân, hết sống lưng lại sống cổ. Đành vậy.

Về đơn vị được một tuần, anh Thạnh về thay anh Năm làm chính trị viên tiểu đoàn. Anh Năm rời đơn vị khi tôi đang nằm viện. Ý đồ cấp trên thay anh từ lâu sau trận đánh không thành với bọn Rồng Xanh Đại Hàn. Dần dà mãi cho đến nay mới có người thay. Thời gian qua, hai chúng tôi sống bên nhau, cộng tác cùng nhau rất gắn bó. Anh xốc vác năng nổ. Vực dậy tiểu đoàn 7 như người mắc bệnh liệt giường trở thành chàng trai mạnh khỏe cường tráng, anh đã góp công sức không nhỏ. Anh Sơn phó chính trị viên tiểu đoàn về trước khi xảy ra trận đánh ở đồi đá không tên. Anh cùng tuổi tôi, người cân đối điển trai nước da trắng hồng. Với tạng người như thế thường có tính đào hoa. Ngược lại anh rất khắc khổ có phần đạo mạo cụ non. Chừng ấy tuổi vẫn chưa có chút tình để nếm mùi mặn lạt. Biết anh quê Bình Định tôi mừng. Thế là tôi có bạn gốc người miền Nam. Trừ hai chúng tôi, cả trung đoàn cán bộ chiến sĩ đều quê miền Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn