Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NAM TIẾN

Đoạn văn là hồi ức của Nam Long về quá trình từ khi còn nhỏ đến lúc tham gia đoàn quân Nam tiến sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Tác giả kể lại lần đầu biết đến vùng Nam Bộ, rồi khi tham gia lực lượng giải phóng quân đã khao khát được vào miền Nam chiến đấu. Sau khi được giao nhiệm vụ bảo vệ Hồ Chí Minh ở Hà Nội, Nam Long nhiều lần xin phép ra chiến trường và được Bác dặn dò về cách đánh giặc, phải dựa vào nhân dân. Nhờ sự đồng ý của Võ Nguyên Giáp, anh gia nhập đoàn quân Nam tiến, cùng đồng đội h

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nam Bộ, tôi được nghe nói đến lần đầu trong đời là từ lời một thầy đồ chữ nho ở Cao Bằng quê tôi. Tôi nhớ mãi cái giọng sang sảng của thầy đồ Khoa người Nam Định:

"Nam Kỳ nguyên tiền lục tỉnh. Kim phân vị nhị thập tứ tỉnh". Cụ vụt cây roi mây xuống sạp làm hiệu. Lũ chúng tôi gân cổ gào lên. "Nam Kỳ nguyên tiền"... Nam Kỳ trước đây gồm sáu tỉnh nay chia thành 24 tỉnh. Nam Kỳ ở đâu ai đặt ra sáu tỉnh trước, ai chia ra thành 24 tỉnh nào có biết vì học cốt để thuộc mặt chữ, không có bản đồ, cũng không được giải nghĩa. Cho tới khi học chữ quốc ngữ lần đầu, nhìn tấm bản đồ Đông Dương bằng chữ Pháp tôi cứ tưởng Cochinchine (Nam Bộ - tiếng Pháp) cũng như xứ Cambodge (Campuchia) hoặc Laos (Lào). Năm 1944 khi tham gia Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tôi khao khát được đến một miền đất xa xôi như trong bài hát:

"... Tiến về Sài Gòn, bãi Cà Mau, dấn bước mau quân giải phóng, hướng phía nam ta tiến tới.
Diệt cho tan quân phát xít Nhật, Pháp. Nguyện đem máu hồng, xây dựng non sông".

Tháng 8 năm 1945, đang ở giải phóng quân, tôi được anh Văn (Võ Nguyên Giáp) phân công đi bảo vệ rước Bác Hồ về Hà Nội. Thấy tôi nhận lệnh mà mặt buồn hiu, anh Văn hỏi:

- Nam Long có yêu Ông Cụ không?

Tôi suýt phát khóc vì câu hỏi đó. Ai mà không yêu Ông Cụ?

Về Hà Nội trong những ngày đầu Bác ở số nhà 48 phố Hàng Ngang. Đây là một cửa hàng lớn buôn vải của ông Trịnh Văn Bô, một nhà tư sản yêu nước. Chúng tôi gác bí mật ở ngay nơi bán hàng, ăn trưa và ngủ ở lầu một, Bác ở tầng trên cùng. Lúc này quân Tưởng đã vào Hà Nội, miền Nam Pháp đang gây chiến, cả Hà Nội sục sôi trong không khí ghi tên vào Nam ở các phòng Nam Bộ. Hằng ngày tôi hay sang chơi bên trại giải phóng quân. Nhìn không khí hăng say luyện tập mà phát ham. Rồi tôi lại trở vế phố Hàng Ngang. Hằng ngày, các anh Nguyễn Lương Bẳng, Trần Đăng Ninh, Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp thường đến chỗ Bác làm việc. Một hôm không thấy các anh đến làm việc, tôi đánh liều lên chỗ Bác. Bác ngừng tay đánh máy hỏi tôi:

- Gì thế chú?

- Thưa Cụ, Pháp đã vào miền Nam, Cụ cho cháu vào Nam.

- Tổ chức phân công gì làm nấy. Còn gì nữa không?

- Dạ thưa không ạ!

- Vậy chú xuống cho Bác làm việc.

Một hôm, anh Văn đến làm việc, tôi theo anh lên gác. Bác hỏi:

- Chú Nam Long có việc gì?

Tôi hiểu ý Bác muốn phê bình nên lúng túng thưa:

- Thưa Cụ, cháu muốn đi đánh nhau quá.

Bác tủm tỉm cười vì tôi dùng từ sai, đáng lẽ nói xin ra trận lại nói xin đánh nhau. Cụ hỏi anh Văn:

- Ý chú Văn thế nào?

- Thưa, xin tùy Cụ. Nếu Cụ cho phép thì tôi cũng đồng ý.

- Được rồi, chiều chú lên gặp Bác.

Chiều hôm đó Bác dặn tôi quyết tâm đánh giặc là tốt nhưng lại phải biết đánh. Bác nói về cái mạnh, cái yếu của Pháp, về cách đánh khi nó đông, khi nó hành quân, khi tạm trú. Bác dùng những từ như "mai phục", "đánh úp". Rồi Bác dạy: phải dựa vào dân như ở Việt Bắc, có dân sẽ có tất cả, từ cơm ăn, thuốc men cho đến do thám địch, nắm tình hình đường sá. Cái này các chú thạo rồi.


Hôm sau, tôi đi nhờ một ô tô vận tải vào Vinh. Các anh ở đó rất cần cán bộ quân sự, thấy tôi người dân tộc, đã qua lớp học chính quy bên Trung Quốc, lại được ở gần Bác nên anh nào cũng coi như đứa em trai.


Một hôm, tôi đang làm việc với Lê Viết Lượng thì có người chạy xộc vào báo: anh Nam Long à! Bộ đội Việt Bắc Nam tiến đang ở ngoài ga Vinh đông lắm. Có người hỏi thăm anh đấy.

Tôi chạy ra ga. Có tiếng gọi Nam Long, Nam Long. Chao ôi toàn "cánh giải phóng quân". Thơ, người Võ Nhai nay là chi đội trưởng kiêm chính trị viên, Hồng An - đại đội trưởng. Thắng Lợi - đại đội trưởng. Người Hà Nội, người Thanh Hóa, Ninh Bình, lại có cả các cô tha thướt trong tà áo dài học sinh, anh em thợ Tràng Thi vạm vỡ trong bộ quần áo thợ. Ai cũng trẻ măng, quân phục chỉnh tề, đầu đội ca lô đính ngôi sao vàng thêu kim tuyến. Thơ bảo tôi: Mình vừa làm chi đội trưởng lại kiêm chính trị viên, làm không hết việc. Giá có thêm Nam Long thì hay quá. Trong cái hào khí tưng bừng ở ga Vinh hôm đó bỗng một giọng nam trung cất lên ngân nga:

"Tiếng súng vang sông núi miền Nam giục ta ra chiến đấu!... Hai ba này", cả toa tàu, cả sân ga cùng đồng thanh hát theo. Tôi run lên vì xúc động. Thấy một anh dắt cái xe đạp đang gân cổ hát, tôi nói: anh cho tôi mượn cái xe về chỗ ông Lê Viết Lượng rồi tôi trả ngay. Anh ta hình như biết tôi nên cho mượn ngay. Tôi đạp vội về chỗ anh Lê Viết Lượng xin phép cho tôi Nam tiến ngay sáng mai. Anh Lượng cười: Nam Long do Trung ương cử vào, tôi làm sao cho phép được. Tôi nói: Nếu Hà Nội đồng ý thì anh cho Nam Long đi chứ. Tôi vào buồng vơ vội mấy bộ quần áo nhét vào ba lô rồi đạp ra ga. Tôi lại chỗ anh thanh niên mượn xe, nhưng không thấy anh ta. Tôi vào nhà thấy một ông già, tôi nói: Thưa bác, cháu có mượn một chiếc xe đạp của một anh lúc nãy đứng trước nhà bác, xin bác nhận giùm cho, nói là Nam Long cám ơn. Nhưng ông cụ nói nhà mình không có cái xe đó. Rầy rà thế. Thôi thế cụ cho cháu gửi vậy, cứ nói là của Nam Long trả, ai có xe đến nhận. Ông cụ đành đồng ý. Tôi vào trạm bưu điện xin gọi ra Hà Nội.

- Hà Nội nghe đây! Một giọng nữ thánh thót. A lô ông cần gặp ai, thưa ông? - Cho tôi gặp anh Văn.

- Xin ông vui lòng cho biết số máy. Tôi ngớ người, làm sao mà biết được số máy anh Văn bây giờ. Có tiếng cúp máy. Tôi chờ một lát lại nói tiếp nhưng vẫn cái giọng lịch sự ban nãy cho xin số máy. Tôi ngồi một lúc rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Tôi giật mình vì tiếng còi tàu. Trời ba giờ sảng rồi. Đầu tàu đang lấy thêm nước. Tôi lại quay máy. Lần này là một giọng nam trầm:

- Hà Nội nghe đây.

- A lô, tôi là Nam Long đang ở Vinh đây, anh cho tôi số máy anh Văn.

- Anh Văn à, cái tên nghe quen quá, có phải anh Văn Cao không?

- Trời ơi không phải, anh Văn là anh Võ Nguyên Giáp ở Bộ Nội vụ mà.

Có tiếng cười nhẹ trong máy. Lát sau anh ấy gọi lại:

- A lô Vinh đâu, có số máy Bộ Nội vụ, xin mời.

Tôi hét to:

- A lô anh Văn phải không?

- A lô tôi nghe đây. Ai đấy?

- Nam Long đây anh Văn à. Anh cho Nam Long Nam tiến nhé. Chỗ đội Nam tiến của Thơ đang thiếu chính trị viên, xin anh cho Nam Long đi nhé.

Dường như anh Văn có đắn đo, lát sau anh nói:

- Cái này phải hỏi các anh bên Quốc phòng. 

- Ấy dà! Thế thì lâu quá đấy anh Văn ơi. Một giờ nữa tàu chạy rồi. Anh Văn cử Nam Long vào Vinh thì anh cho đi được chứ!

- Ý kiến các anh bên Tỉnh ủy thế nào?

Anh Văn hỏi, tôi đáp bừa:

- Thưa anh, anh Lượng bảo nếu Hà Nội đồng ý thì các anh ấy cho đi?

- Vậy hả, để mình báo cáo với Ông Cụ và các anh trong Thường vụ.

Tôi lại vào nhà ông cụ gửi xe, mượn lại chiếc xe đạp vội về báo cáo với anh Lượng, anh siết chặt tay tôi chúc đánh thắng. Tôi đạp ra ga trao xe cho ông cụ rồi lên xe lửa, ngồi chưa ấm chỗ, con tàu đã rúc một hồi còi dài rùng mình chuyển bánh vào Nam.


Đoàn xe chúng tôi đi tới tỉnh nào cũng được cấp ủy, Mặt trận Việt Minh đón tiếp rất nồng nhiệt. Chúng tôi gần như không phải nấu cơm ăn, nước uống dọc đường. Lễ nghi, trang trọng là thế, bừng bừng khí thế có Quảng Ngãi. Nơi nào cũng có các đơn vị tình nguyện vào Nam. Và đến Thủ Đức thì thân thiết như đón những đứa con về gia đình. Các anh Trần Văn Giàu, Hà Huy Giáp, Dương Bạch Mai, Đào Duy Kỳ, Bùi Công Trừng, Phạm Văn Bạch anh nào củng chỉnh tề trong com-lê, nói chuyện đôi lúc xen từng tràng tiếng Pháp, khi cần tranh luận. Tôi nghĩ các anh là trí thức, con nhà khá giả mà bỏ gia đình và cuộc sống tiện nghi đi kháng chiến thế này thì nhất định ta thắng Pháp. Sau khi nghe anh Hà Huy Giáp phổ biến tình hình, tôi bàn với anh Thơ đi trinh sát, cùng đi có anh Công người Quảng Ngãi là cán bộ địa phương. Anh Công cho biết Pháp dựa vào thế Đồng minh đang nống ra nên chưa kip lập được tề điệp. Chúng tôi có thể cải trang đi lẫn vao dân để xem xét địa hình. Các anh cho mượn quần áo thợ đã cũ. Tôi cao to lại trắng trẻo nên phải lấy bùn xoa vào những mảng áo rách, tay cầm khúc mía vừa đi vừa nhai. Anh Công xách một đùm bánh tét. Anh Thơ cầm nải chuối đi giữa dòng người đến thẳng cầu Bình Lợi. Trên cầu có một bót gác của lính Nhật. Cầu Bình Lợi hồi đó bằng sắt, khoảng giữa có máy quay để khi có tàu ghe, tàu lớn thì khoang này quay theo dòng chảy cho tàu ghe đi qua vào một giờ nhất định. Chúng tôi vừa đi vừa bàn cách đánh ngay tại thực địa. Đến cầu Băng Ky, anh Công gặp một toán du kích, phân công du kích phá cầu Băng Ky, còn chúng tôi sẽ phá cầu Bình Lợi, không cho địch nống ra.


Bỗng có tiếng động cơ ô tô, chiếc xe giép đi đầu kéo cờ Anh, những xe tải đi sau đầy lính, đoàn xe vượt chúng tôi đến đầu cầu Bình Lợi, lính xuống xe tản ra hai bên đường. Sĩ quan đứng trên xe giép dùng ống nhòm sát bờ bắc. Thơ hỏi tôi: Làm sao đây, chúng nó vượt mình rồi. Tôi lạnh xương sống, chưa biết tính sao. Nhưng thấy bà con ta cứ đi, anh Công nói: Việc ai nấy làm, hồn ai nấy giữ cứ đi. Thế là chúng tôi đi giữa hàng lính. Sang bên kia cầu, gặp một chiếc xe thổ mộ chúng tôi bảo người đánh xe:

- Lính Đồng minh bên kia cầu, quay lại thôi. - Người đánh xe cười khà: Mấy chú ti tược tại sao ta không ti tược à. Nghe cách phát âm, biết ngay là người Hoa. Anh Công nói: Chúng tôi đi bộ đội, cái nị đánh xe ngựa cồng kềnh gặp xe Đồng minh tránh vô đâu? Quay lại Thủ Đức, cho chúng tôi đi nhờ. Thấy bác ta còn ngần ngừ, anh Công vỗ vai bác ta. - Nị đừng ngại, về trụ sở Ủy ban Thủ Đức bọn tôi sẽ trả tiền đàng hoàng. Về đến Thủ Đức, anh Đào Duy Kỳ cho biết trên điều anh Thơ lên Ủy ban quân sự miền Đông, tôi làm chi đội trưởng. Tôi và anh Công báo cáo tình hình với anh Hà Huy Giáp đề nghị ngăn chặn không cho địch nống ra. Muốn ra bờ bắc phải hành quân theo hướng tây chợ Bình Phước để bố trí dọc theo bờ sông Sài Gòn. Nhân dân Bình Phước thấy bộ đội hành quân qua bèn sai con cháu hái dừa cho. Một bà má đưa tôi trái dừa tơ nói: "Uống đi con. Uống lấy sức mà chạy". Tôi cầm trái dừa loay hoay không biết làm sao. Bà má dường như thông cảm với đứa con miền Bắc chưa quen uống nước dừa nên má bảo cô gái đứng cạnh: Con Hai vạt dừa cho anh con đi chớ, mắc chi mà cứ cười hoài. Cô gái đỏ bừng mặt đỡ trái dừa, bằng hai vạt dao rất lẹ cô đã hớt đi lớp vỏ xanh tơ, lấy mũi dao khứa một đường nhỏ hình chữ V rồi đưa tôi. Lần đầu tiên tôi được uống nước dừa, vì quê tôi Cao Bằng đâu có dừa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn