Bài viết

Nạn đói năm 1945

23/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Có lẽ trong suốt chiều dài lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam, chưa có khoảnh khắc nào bi thương và tàn khốc hơn sáu tháng cuối năm 1944 đến giữa năm 1945. Chỉ trong nửa năm ngắn ngủi, gần hai triệu đồng bào ta đã gục ngã, một con số đau đớn, bằng cả số người ngã xuống trong suốt hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ sau này. Nguyên nhân đến từ mọi phía, như một vòng kìm siết dần sự sống. Người Nhật áp đặt chính sách thu gom gần một phần ba sản lượng thóc gạo của cả miền Bắc, bắt nông dân không được dự trữ quá một tấn gạo, tư nhân không được mang quá 50kg qua tỉnh khác. Thóc gạo đầy trong kho quân đội, nhưng làng xóm lại trống rỗng, nồi niêu nguội lạnh. Đất trồng lúa bị cưỡng bức biến thành đất trồng đay, trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh. Rồi thiên tai dồn dập: vụ mùa 1944-1945 mất trắng, lũ lụt vỡ đê ở Nghệ Tĩnh, dịch rầy lần khắp Nam Định, Thái Bình. Ôn dịch, tả lỵ bùng phát ở Bắc Giang, Bắc Ninh. Hình ảnh da bọc xương lê bước trên đường làng, những đôi mắt trũng sâu nhìn nhau bất lực, những thân xác gục xuống bên vệ đường vì không còn sức mà đi thêm một bước. Người chết không có lấy manh chiếu che thân, không có nổi một nấm mồ riêng. Những nấm mồ tập thể, những cái tên Mả Đói, Gò Lâu, Dốc Âm Hồn... rải rác khắp miền Bắc chính là những chứng tích đau thương còn xót lại. Người dân chết vì không còn hạt gạo để ăn. Chết trên đường đi xin, chết vì dạ dày khi ăn vội cám trộn mùn cưa, chết ngay khi vừa cầm được nắm cơm cứu tế. Có những người lại chết vì bội thực khi bất ngờ được ăn nó sau bao ngày dằng dặc đói khát. Cái chết đến với đủ hình hài, nhưng đều cùng chứng một điểm: nghèo đói, quằn quại, tuyệt vọng, và không kịp giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho thân phận con người. Thái Bình, Nam Định, Nghệ Tĩnh,... những vùng quê ấy, đã có làng mất đi hai phần ba dân số, riêng Tây Lương, Thái Bình, cứ ba người thì hai người chết. Đói khát không chừa một mái nhà nào, không phân biệt già trẻ, trai gái. Đói đến mức người mẹ không còn sữa cho con bú, những đứa trẻ vừa chập chững đã gục xuống trong vòng tay cha mẹ kiệt quệ. Thảm kịch ấy không chỉ giết chết hàng triệu con người, mà còn cướp đi cả một thế hệ, làm suy kiệt nhiều dòng họ, xoá mờ những giá trị văn hoá, và để lại một ám ảnh nặng nề đến tận hôm nay. Gần hai triệu linh hồn đã ngã xuống, không phải vì súng đạn, mà vì cái đói khủng khiếp. Nạn đói năm 1945 không chỉ là một thảm hoạ lịch sử. Đó là một vết thương chưa bao giờ lành. Và mỗi khi nhắc đến, ta không chỉ căm phẫn trước những kẻ gây ra, mà còn lặng người, nghẹn ngào đến bật khóc, vì hàng triệu đồng bào vô tội đã âm thầm ra đi trong đói khát, trong uất nghẹn, để nhắc cho con cháu hôm này biết trân trọng sự sống, biết yêu thương nhau và biết cúi đầu tưởng nhớ những linh hồn đã nằm xuống.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nạn đói năm 1945 | Câu chuyện thời hoa lửa