Bài viết

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sức mạnh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sức mạnh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo sức mạnh hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam

Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta – một chính đảng tiền phong cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vấn đề giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Xuất phát từ thực tiễn, nhất là từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo xây dựng Nhànước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nguyên tắc tất cả mọi quyền bính thuộc về nhân dân. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều, nặng nề, đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Muốn hoàn thành tốt mọi việc thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát để đánh giá đúng tình hình hoạt động của cán bộ, đảng viên; phát huy ưu điểm, cách làm hay; chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.

Công tác kiểm tra trong Quân đội là một bộ phận công tác kiểm tra của Đảng, giữ vị trí rất quan trọng trong toàn bộ quy trình lãnh đạo của Đảng, luôn gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển và trưởng thành của Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Công tác kiểm tra theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta bao gồm hai mặt chủ yếu: Đó là kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và kiểm tra việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, giữ gìn kỷ luật trong Đảng. Đối với việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định kiểm tra là một trong ba yếu tố tạo nên thành công hay thất bại của chính sách: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích…”(1). Công tác kiểm tra nếu được thực hiện tốt thì “mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”(2). Còn nếu trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự kiểm tra, thanh tra thì tất yếu sẽ dẫn đến bệnh quan liêu, mệnh lệnh và từ đó sẽ tiếp tục gây ra những tác hại to lớn khác cho sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát”(3).

Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng trên, công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, chủ động, là bộ phận hữu cơ trong hoạt động quản lý, lãnh đạo của các cơ quan, đơn vị. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Không phải ngày nào cũng kiểm tra. Nhưng thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm. Giao công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến. Thế là không biết yêu dấu cán bộ”(4). Người nhấn mạnh: “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ”(5).

Như vậy, có thể thấy, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiểm tra, kiểm soát, giám sát có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa tiêu cực, phát huy những nhân tố tích cực, có mục đích thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, Nhà nước, làm gương mẫu cho nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán những cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp không sát thực tế, không theo dõi, giáo dục cán bộ, gần gũi quần chúng; đối với công việc thì trọng hình thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề, chỉ khai hội, viết chỉ thị mà không kiểm tra đến nơi đến chốn.

Từ quan điểm “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng”(6), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát cần tuân thủ từ trên xuống và từ dưới lên; phải theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình để giáo dục, thuyết phục, uốn nắn đảng viên, cán bộ, làm cho tổ chức cơ sở đảng vững mạnh, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững định hướng chính trị, nhận thức tư tưởng, trau dồi phẩm chất đạo đức trong sáng, đủ sức hoàn thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Chỉ rõ công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát có tầm quan trọng đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đặt ra yêu cầu rất cụ thể đối với đội ngũ cán bộ thực thi công tác này. Cán bộ kiểm tra phải là những người thực sự có phẩm chất đạo đức, có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và uy tín. Khi bàn về “tài” và “đức”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãdạy: có đức mà không có tài sẽ thành người vô dụng. Đối với công tác kiểm tra, câu nói này của Người lại càng xác đáng. Chẳng hạn, bàn về năng lực của người cán bộ kiểm tra thể hiện ở phương pháp làm việc đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ phương pháp kiểm tra khoa học đó là: “kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm”, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, “kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình”.

Thực tế, công tác của quân đội là công tác đặc thù, các hoạt động của bộ đội thường diễn ra trong môi trường khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng khi làm nhiệm vụ. Cho nên kế hoạch công tác của mỗi đơn vị, mỗi cá nhân cán bộ, chiến sỹ phải luôn phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể, phản ánh được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị mà đơn vị được giao, phải có bước đi, tiến độ triển khai phù hợp, sát thực, chắc chắn, khả thi. Muốn như vậy, càng phải chú trọng công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát để không bỏ sót việc, kịp thời giải quyết những vấn đề, những tình huống phát sinh để công việc sẽ có hiệu quả từng bước một, tiến tới giành thắng lợi trong tổng thể.

Quan tâm tới vị trí, vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát trong duy trì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, kỷ luật quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, thúc đẩy việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của Quân đội, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh,.. đã được thể hiện trong nhiều bài viết, bài nói cũng như chỉ đạo thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã viết những bức thư đầy tâm huyết gửi các hội nghị, các lớp huấn luyện cán bộ quân đội bày tỏ tâm huyết đối với nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật quân đội: Trong Thư gửi Hội nghị tình báo, tháng 8/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trong công tác, cấp trên đối với cấp dưới luôn luôn phải có sự giúp đỡ, đôn đốc, kiểm tra. Thiếu một điều trong ba điều đó thì công việc sẽ lúng túng”(7).

Nói chuyện tại Hội nghị cao cấp toàn quân ngày 20/3/1958, Người nhắc nhở: “Cán bộ phải có tinh thần trách nhiệm, chấp hành tốt mệnh lệnh và chỉ thị, khắc phục khó khăn, đi sâu đi sát thực tế, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, chống quan liêu đại khái”(8).

Tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất, ngày 25/6/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh chia sẻ đã nhận đượcnhiều thư trong bộ đội gửi lại, hoặc trong chỉnh huấn gửi tới, tự phê bình là có tham ô lãng phí và xin hứa sửa chữa.

Từ đó, Bác một lần nữa nhấn mạnh, phê bình và tự phê bình chính là một cách thức hữu hiệu bảo đảm dân chủ cũng như tạo nên hiệu lực, hiệu quả cho hoạt động kiểm tra. Bản thân Người là một tấm gương sáng về ý thức đấu tranh phê bình và tự phê bình. Giữa năm 1950, khi nhận được báo cáo của Đoàn thanh tra (do cụ Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra Chính phủ làm Trưởng đoàn) về những vi phạm của chính quyền các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh khi huy động nhân tài, vật lực cho kháng chiến (vi phạm chính sách tôn giáo, huy động quá sức dân, quân phiệt, doạ dẫm, truy bức quần chúng…), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Chính phủ xử lý nghiêm minh những cán bộ sai phạm đồng thời Người viết thư nhận lỗi với đồng bào Liên khu IV. Trong thư có đoạn viết: “Nghe các ông thanh tra báo cáo lại những việc đó, tôi rất đau lòng! Dù Chính phủ đã ra lệnh trừng trị những cán bộ đó, tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo. Các cấp liên khu và tỉnh cũng phải chịu một phần trách nhiệm vì thiếu sót sự kiểm tra chặt chẽ các cán bộ cấp dưới”.

Người nhấn mạnh: “Tôi mong rằng: từ nay các cán bộ đều biết phê bình và tự phê bình, đều cố gắng sửa đổi lối làm việc, theo đúng đường lối của Chính phủ và Đoàn thể, hợp với lòng dân. Cán bộ cấp trên phải luôn luôn đôn đốc và kiểm tra công việc cán bộ cấp dưới. Nhân dân thì giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ”(9).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nêu tấm gương mẫu mực của một người lãnh đạo luôn quan tâm đến các kết luận, kiến nghị của công tác kiểm tra, thanh tra. Trong vụ án Trần Dụ Châu “biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến” gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến công tác hậu cần quân đội, làm giảm sức chiến đấu của quân đội trong kháng chiến, Người đã kịp thời chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh vụ việc này, củng cố lòng tin của đồng bào, chiến sĩ đối với Đảng và “Chính phủ cụ Hồ”. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 15 – 17/11/1950, sau khi nghe Bộ Quốc phòng trình bày vụ án và nghe Hội đồng Chính phủ nhận xét, cho ý kiến khắc phục, sửa chữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: Lúc tìmngười phải tìm cả tài, cả đức, chú trọng tư tưởng. Nếu cán bộ biết thương dân, tiếc của dân thì không xảy ra việc đáng tiếc. Đồng thời, phải giáo dục, cải tạo, kiểm tra cán bộ(10).

Quán triệt tinh thần và quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng về công tác kiểm tra, những năm qua, cấp ủy các cấp trong Đảng bộ Quân đội đã luôn chủ động kiểm tra, giám sát, nắm tình hình, kịp thời đề xuất các tập thể và cá nhân vi phạm kỷ luật, thấu tình, đạt lý, đúng người, đúng lỗi phạm, không có vùng cấm, trên tinh thần nhân văn, tình yêu thương đồng chí.

Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, trải qua các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong xem xét vi phạm ở các tổ chức đảng, một số tổ chức đảng trong quân đội bị kết luận “Vi phạm nguyên tắc, quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát…”. Kết luận này được chỉ ra ở các đơn vị, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025…

Thực tiễn qua 93 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng ta đã khẳng định vai trò to lớn của công tác kiểm tra, giám sát theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với Đảng bộ Quân đội nói riêng, sự vận dụng, phát triển những quan điểm, tư tưởng của Người trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể hiện nay là rất cần thiết và đòi hỏi phải có sự tìm tòi sáng tạo, thích ứng với hoàn cảnh mới của cách mạng Việt Nam, góp phần xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn