Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Nén hương trên đỉnh Thiên Ấn gửi người chí sĩ

Lắng đọng ký ức từ chuyến viếng mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng trên đỉnh Thiên Ấn (Quảng Ngãi), hồi tưởng những ngày tháng kháng chiến cuối đời của Cụ và sự tiếp nối lý tưởng của thế hệ trẻ hôm nay.

Đà Nẵng23/08/2026Phường Cẩm Thành (Đoàn Phường Cẩm Thành)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Buổi chiều muộn, nắng miền Trung buông xuống đỉnh Thiên Ấn những vạt vàng trầm mặc. Gió từ dòng Trà Khúc hào phóng thổi thốc lên triền dốc, làm những hàng thông cổ thụ rung rinh và phảng phất mùi nhựa ấm nồng quyện lẫn khói nhang từ phía chùa cổ. Đứng trên đỉnh non thiêng nhìn xuống, dòng sông Trà như một dải lụa mềm lặng lẽ trôi giữa lòng thành phố đang êm ả lên đèn. Giữa khoảng không tĩnh lặng, rợp bóng cây xanh và tách biệt hẳn với sự ồn ã thường nhật, khu mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng hiện ra trang nghiêm mà dung dị lạ kỳ.

Tôi đốt một nén hương, hai tay run run cắm vào lư trầm trước phần mộ của Cụ. Khói thuốc quyện vào gió chiều, mờ ảo như bức màn vô hình mở ngược dòng ký ức về hơn bảy mươi năm trước – những năm tháng đất nước chìm trong bão đạn và ngọn lửa kháng chiến sục sôi.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng – người đỗ đầu kỳ thi Hội, bậc chí sĩ yêu nước lỗi lạc của phong trào Duy Tân, từng nếm trải mười ba năm lao tù khắc nghiệt ở Côn Đảo mà lòng kiên trung chưa từng một lần lung lay. Cách mạng Tháng Tám thành công, khi Tổ quốc vừa giành lại độc lập giữa muôn vàn thử thách thù trong giặc ngoài, vị chí sĩ ngoài tuổi thất tuần ấy vẫn gác lại sự an nhàn để dấn thân, nhận lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia gánh vác vận mệnh non sông. Trong những tháng ngày Bác Hồ sang Pháp đàm phán, Cụ giữ trọng trách Quyền Chủ tịch nước, lấy phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” làm kim chỉ nam, kiên quyết chèo lái con thuyền cách mạng đứng vững trước đầu sóng ngọn gió.

Thế nhưng, điều khiến tôi lặng người xúc động nhất khi đứng trước mộ phần hôm nay là những ngày tháng cuối đời của Cụ trên mảnh đất Quảng Ngãi này. Cuối năm 1946, toàn quốc kháng chiến bùng nổ, dù sức khỏe đã cạn kiệt sau năm tháng lao tù và gánh nặng tuổi tác, Cụ vẫn không chọn ở lại an toàn nơi chiến khu mà tình nguyện làm Đặc phái viên của Chính phủ đi kinh lý miền Trung. Cụ muốn đem chút sức tàn để hiệu triệu, gắn kết triệu triệu con tim đồng bào đứng lên cứu nước. Người ta kể lại rằng, những ngày bệnh nặng ở vùng rừng núi Nghĩa Hành, giữa những cơn sốt triền miên trong căn nhà lá đơn sơ, Cụ vẫn gượng dậy bên bàn đèn dầu, chắt chiu từng dòng thư tay gửi đồng bào và chiến sĩ. Đến ngày 21 tháng 4 năm 1947, khi trái tim một đời vì nước vì dân đập những nhịp cuối cùng, Cụ vẫn giữ trọn niềm tin sắt son vào ngày toàn thắng của dân tộc.

Trước nấm mồ phủ bóng thông già, từng lời trong bức thư Bác Hồ khóc Cụ năm nào bỗng dội về sâu thẳm: “Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan...”. Đó không chỉ là lời tiễn biệt của người đứng đầu non sông dành cho người tri kỷ, mà là sự tạc tượng nhân cách của một bậc đại trượng phu suốt đời dâng trọn cho đất nước.

Tiếng chuông chùa Thiên Ấn ngân nga buông từng hồi trầm ấm vào hoàng hôn. Nhìn từ đỉnh núi, dòng Trà Khúc vẫn muôn đời trôi chảy như chứng nhân lịch sử. Dòng sông ấy nay soi bóng những nhịp cầu hiện đại, những giảng đường rộn rã tiếng cười sinh viên và những dãy phố rực rỡ ánh đèn hòa bình. Đứng trước khói hương mờ ảo, tôi khẽ hỏi Cụ trong tâm tưởng: “Cụ ơi, thế hệ hôm nay đang làm gì, liệu chúng cháu có sống xứng đáng với những gì Cụ và lớp lớp cha anh đã đi qua?” – Và câu trả lời ấy, tôi hiểu mình phải tự viết nên bằng chính ước mơ, trách nhiệm và hành động của tuổi trẻ hôm nay.

Rời đỉnh núi khi ráng chiều đã tắt hẳn, lòng tôi đọng lại niềm biết ơn sâu lắng. Kể từ chiều hôm ấy, mỗi lần ngước nhìn lên đỉnh Thiên Ấn từ phía bờ sông, tôi không chỉ thấy một ngọn núi sừng sững giữa đất trời, mà thấy cả một nén tâm hương bất diệt tạc vào non nước, nhắc nhở thế hệ mai sau về ngọn lửa yêu nước trọn đời.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn