“NẾU NHỤT CHÍ, ĐỒNG ĐỘI SẼ MẤT, QUÊ HƯƠNG SẼ MẤT”
Suốt những năm tháng chiến đấu, ông Nguyễn Khắc Tâm (bí danh Hai Chuối), hiện cư trú tại phường Mỹ Phong (tỉnh Đồng Tháp), sinh năm 1948, thương binh hạng 3/4 từng bị thương 6 lần, nhưng chưa một lần chùn bước.

Ông Nguyễn Khắc Tâm.
Với ông, nỗi đau thể xác không thể lấn át được lý tưởng và niềm tin vào cách mạng. Điều này đã giúp ông kiên cường bám trụ, cùng đồng đội đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh.
Chỉ cho chúng tôi vị trí ở tay, chân với những vết sẹo còn hằn sâu trên da thịt, ông Hai Chuối kể: “Bị thương nhiều lần, nhưng cứ thấy khỏe người là tôi lại báo cáo xin đi đánh địch cùng đồng đội. Đến giờ, mảnh đạn còn nằm trong lồng ngực cũng đã hơn 50 năm”.
Ông Hai Chuối tham gia cách mạng năm 1966 tại Thành đội Mỹ Tho, từng là Tiểu đội trưởng Tiểu đội trinh sát của Đại đội 3, sau đó là bộ đội đặc công, trực tiếp tham gia trong nhiều trận đánh ác liệt, đặc biệt là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 tại Mỹ Tho.
Nhắc lại những năm tháng ấy, ông Hai Chuối chia sẻ: “Khi đó, tụi tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là đánh thắng Mỹ và quân đội Sài Gòn, dù có phải hy sinh”.
Sau trận đánh Tết Mậu Thân, ông Hai Chuối tiếp tục tham gia các trận chống bình định trong điều kiện đế quốc Mỹ và quân đội Sài Gòn có ưu thế cơ giới mạnh, hỏa lực mạnh.

Ông Trần Văn Bé Năm (thứ hai, từ trái sang) cùng các hội viên Hội Cựu chiến binh xã Tân Thuận Bình kể lại câu chuyện về “Thời hoa lửa”.
“Những đợt càn quét của địch, đi qua đâu là nơi ấy chỉ còn tro tàn, cảnh vật hoang tàn đến nỗi khó tin”, ông Hai Chuối kể lại.
Gian khổ, hiểm nguy luôn cận kề, nhưng ông Hai Chuối và đồng đội vẫn kiên cường bám trụ, bởi niềm tin vào cách mạng và sự yêu thương, chở che của Nhân dân là điểm tựa vững chắc.
Ông kể, có những buổi tối, nghe tiếng súng xa vọng lại, ông thấy lòng mình lại trào dâng ý chí: “Chúng tôi biết nếu nhụt chí, đồng đội sẽ mất, quê hương sẽ mất. Chính niềm tin và tình thương của dân đã cho chúng tôi sức mạnh để vượt qua tất cả.
Đến năm 1971, tôi được cấp trên giao nhiệm vụ đặc công. Sau 1 tháng huấn luyện cấp tốc, tôi cùng đồng đội tham gia trận đánh cụm tàu của quân đội Mỹ trên sông Cửu Long, phá hủy 11 chiếc tàu địch.
Lúc đó, tôi chỉ nghĩ một điều duy nhất: Tất cả vì cách mạng, không sợ chết, không sợ gì hết.”
Ông Hai Chuối nhớ nhất là trận đánh kho đạn năm 1973. Khi đó, ông cùng đồng đội tham gia đánh 11 kho đạn của Chiến đoàn 6 tại Mỹ Tho. Mỗi kho đạn là một thử thách sinh tử, nhưng với ông và đồng đội, đó cũng là niềm vinh dự được cấp trên giao phó.
Ông bồi hồi nhớ lại: “Chúng tôi nhìn nhau, thấy quyết tâm trong ánh mắt đồng đội, và thế là đi. Sau trận đánh, nhiều đồng đội hy sinh, tôi cũng bị thương, nhưng may mắn còn sống”. Và thế là ông vẫn tiếp tục cầm súng chiến đấu cho đến ngày giải phóng.
Sau ngày giải phóng, ông Hai Chuối tiếp tục công tác tại Viện Kiểm sát nhân dân TP. Mỹ Tho (cũ) cho đến ngày nghỉ hưu.
Không cho phép mình nghỉ ngơi, ông miệt mài cống hiến cho cộng đồng, ông từng có hơn 6 năm làm Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh khu phố Mỹ Hòa (phường Mỹ Phong) luôn gương mẫu trong mọi công việc, tận tâm với đồng đội, bà con Nhân dân.
Ông đã được các cấp khen thưởng với nhiều Bằng khen, Giấy khen trong nhiều năm liền.
Giờ đây, ở tuổi 78, với 57 năm tuổi Đảng, dù thời gian đã làm bạc trắng mái đầu, ông Hai Chuối luôn là một cán bộ, người cựu chiến binh, đảng viên cộng sản mẫu mực, giữ vững lý tưởng cách mạng và là tấm gương sáng để các thế hệ noi theo.
LỜI THỀ THEO CÁCH MẠNG
Với dáng người nhỏ nhắn, giọng nói trầm ấm và nụ cười hiền hậu, sinh năm 1956, tại ấp Long Hiệp, xã Tân Thuận Bình, ông Trần Văn Bé Năm sớm trưởng thành trong khói lửa chiến tranh.

Sân bay giếng nước Mỹ Tho vào thời điểm 30-4-1975. Ảnh: TRẦN BIỂU
Lớn lên giữa vùng địch kiểm soát, tận mắt chứng kiến cha bị địch bắt tra tấn dã man, anh trai tham gia cách mạng cũng hy sinh, nỗi đau mất mát đã sớm hun đúc trong ông Năm ý chí kiên cường và quyết tâm đứng lên chiến đấu.
Năm 16 tuổi, ông Năm quyết tâm đi theo cách mạng. Ông Năm chia sẻ: “Lúc đầu, tôi xin theo các cô, chú ở xã, nhưng trong lòng luôn khao khát được trực tiếp cầm súng đánh giặc. Dù còn nhỏ, tôi vẫn tha thiết năn nỉ để được tham gia bộ đội”.
Năm 1973, ông Năm tham gia lực lượng du kích xã Quơn Long, rồi lần lượt công tác tại Đại đội địa phương quân, huyện Chợ Gạo (cũ), đội trinh sát, rồi đội hỏa tốc tại Huyện đội Chợ Gạo.
Trong những năm tháng chiến đấu, ông Năm cùng đồng đội tham gia nhiều trận chống càn ác liệt.
Đỉnh điểm là cuối năm 1974, khi Chợ Gạo trở thành chiến trường trọng điểm, quân dân địa phương phối hợp cùng Tiểu đoàn 514C đẩy mạnh tấn công, nhằm phá rã hệ thống “ấp chiến lược”, mở mảng chuyển vùng lớn.
Ông Năm nhớ lại: “Thời điểm cao điểm năm 1974, khi chúng tôi bao vây đồn An Lạc (xã Lương Hòa Lạc), địch chống trả quyết liệt, pháo và súng bắn ra liên hồi.
Anh em phải bám từng mô đất, từng bờ mương để tiến lên phía trước. Khi địch bắt đầu rút chạy, chúng tôi vừa đánh, vừa áp sát, giữ thế chủ động. Đến lúc làm chủ được đồn, ai cũng thấm mệt, nhưng niềm vui thì không gì tả nổi” .
Sau trận đánh, điều ông nhớ nhất không chỉ là chiến thắng mà còn là hình ảnh bà con trong vùng hỗ trợ, tiếp tế và cùng bộ đội, du kích địa phương phá bỏ đồn bốt: “Lúc đó, mình mới thấy rõ sức mạnh của lòng dân. Chính điều đó đã giúp chúng tôi vững tin mà đi đến cùng”, ông Năm kể.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông Năm tiếp tục công tác tại Tỉnh đội Tiền Giang (cũ), rồi tham gia chiến trường K, tiếp tục cống hiến tuổi trẻ cho nhiệm vụ quốc tế.
Đến năm 1995, vì lý do sức khỏe, ông nghỉ hưu sớm, trở về cuộc sống đời thường, làm cán bộ tuyên giáo xã, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh ấp Long Hiệp… đóng góp tích cực cho địa phương. Với ông Năm, dù trong thời chiến hay thời bình, được cống hiến luôn là niềm tự hào và lẽ sống.



